Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh
Nội khoa BẢN ĐỌC THỬ

Bài giảng Các loại viêm âm đạo có thể ảnh hưởng đến kết cục của thai kỳ

6 phút đọc

Thân Trọng Thạch 1, Huỳnh Nguyễn Khánh Trang 2 © Bộ môn Phụ Sản, Khoa Y, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh.

1Giảng viên bộ môn Phụ Sản, khoa Y, Đại học Y Dược tp HCM. e-mail: thachdc2002@yahoo.com

2Phó giáo sư, phó trưởng bộ môn Phụ Sản, khoa Y, Đại học Y Dược tp HCM. e-mail: tranghnk08@gmail.com

NHIỄM STREPTOCOCCUS NHÓM B

Nhiễm Streptococcus nhóm B (GBS) (Streptococcus agalactia) là một nguyên nhân quan trọng gây nhiễm trùng sơ sinh.

Tần suất có GBS hiện diện trong đường sinh dục dưới nhưng không kèm theo triệu chứng lâm sàng có thể lên đến 30% số thai phụ.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng các khảo sát nuôi cấy vi sinh thường cho kết quả rất thay đổi.

Ở thai phụ, nhiễm GBS có thể gây viêm nội mạc tử cung hậu sản, nhiễm trùng hay viêm màng não.

Khoảng 50% các trẻ có tiếp xúc với GBS có nguồn gốc từ đường sinh dục dưới sẽ bị nhiễm.

Nếu không được điều trị, phần lớn các trẻ bị nhiễm sẽ xuất hiện các dấu hiệu của nhiễm trùng sơ sinh.

Nhiễm GBS kiểu khởi đầu sớm là kế quả của lây truyền dọc, và rất nặng.

Có 2 kiểu biểu hiện lâm sàng của nhiễm GBS sơ sinh: khởi dầu sớm và khởi đầu muộn. Hai kiểu này có tần suất tương đương.

Nhiễm GBS với khởi đầu sớm thường xảy ra trong tuần lễ đầu tiên của sơ sinh. Kiểu nhiễm trùng GBS này thể hiện dưới hình thức của một tình trạng nhiễm trùng huyết hay sốc nhiễm trùng, viêm phổi hay viêm màng não. Nhiễm GBS khởi đầu sớm thường thấy ở trẻ non tháng. Kiểu khởi đầu này ít gặp hơn nếu trẻ đủ tháng.

GBS khởi đầu muộn sau tuần đầu tiên, đôi khi xảy ra rất muộn, có thể đến 3 tháng sau sanh. GBS khởi đầu muộn có thể là do lây truyền dọc, nhưng cũng có thể là nhiễm khuẩn từ môi trường sống.

Tầm soát nhiễm GBS và can thiệp có hiệu quả, có thể làm giảm xuất độ nhiễm GBS sơ sinh.

Một chương trình tầm soát và can thiệp có hiệu quả, có thể làm giảm xuất độ nhiễm GBS sơ sinh chỉ còn khoảng 2-3 trường hợp cho 10,000 trường hợp trẻ sinh sống. Tại Mỹ, Hiệp hội các nhà Sản Phụ khoa Hoa Kỳ (American College of Obstetricians and Gynecologists) (ACOG) và Trung tâm Kiểm soát và Dự phòng Bệnh tật (Centers for Disease Control and prevention) (CDC) khuyến cáo tầm soát GBS thường qui cho mọi thai phụ giữa tuần 35 và 37 của thai kỳ.

Nội dung của can thiệp là dùng Penicillin hay Ampicillin trong chuyển dạ hay vỡ ối ở thai phụ biết có kết quả cấy dương tính với GBS.

Dùng kháng sinh (thường dùng penicillin hoặc ampicillin) lúc sinh là cách tốt nhất để ngăn ngừa sự khởi phát GBS ở trẻ sơ sinh. Mặc dù cách tiếp cận như thế này có nhiều tốn kém và gia tăng nguy cơ tạo ra vi khuẩn kháng thuốc, nhưng nếu để khi đã có tình trạng nhiễm khuẩn huyết rồi thì điều trị kém đáp ứng hơn. Các khuyến cáo đề nghị dùng kháng sinh dự phòng cho mọi thai phụ có kết quả dương tính với nuôi cấy GBS từ vùng âm đạo trực tràng, khi họ vào chuyển dạ hay khi có ối vỡ non.

Nếu thai phụ không được tầm soát GBS hay không biết kết quả GBS, việc dự phòng được tiến hành tùy nguy cơ cụ thể.

Nếu thai phụ không được tầm soát GBS hay không biết kết quả GBS, dự phòng được tiến hành tùy nguy cơ cụ thể:

Cho mọi thai phụ có chuyển dạ sanh non trước 37 tuần

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

Gửi bình luận

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Trang Chủ