Đại cương
Khái niệm
Bệnh phổi mạn tính (CLD) còn được gọi là loạn sản phổi phế quản (bronchopulmonary dysplasia – BPD) hậu quả của thông khí áp lực cao trong khi cấu trúc và chức năng phổi chưa trưởng thành và ngộ độc oxy.
Theo Viện quốc gia của Mỹ về Sức khỏe trẻ em và phát triển con người (NICHHD – 2001) định nghĩa CLD khi trẻ vẫn có nhu cầu oxy ở thời điểm:
+ Vượt quá 36 tuần tuổi thai (tuổi tính từ kỳ kinh cuối – PMA) đối với trẻ sinh non
+ Hoặc ở mức 29 – 55 ngày tuổi đối với trẻ sinh non ≥ 32 tuần tuổi thai.
CLD làm tăng nhu cầu oxy và thời gian thở máy, tăng áp lực động mạch phổi, xơ phổi, xẹp phổi, hạn chế chức năng phổi diễn biến nặng nhiễm trùng tỷ lệ tử vong tăng cao.
Dịch tễ
Tỷ lệ hay gặp ở những trẻ đẻ non
Yếu tố nguy cơ:
Giai đoạn chu sinh
+ Niệu nang tĩnh mạch rốn: được cho là liên kết với tăng nguy cơ CLD.
+ Tuổi thai
+ Sơ sinh nhẹ cân, cân nặng
+ Trẻ nam.
+ Viêm màng ối ở mẹ.
+ Gia đình có tiền sử hen.
Sau sinh
+ Hồi sức: các khả năng tổn thương phổi đáng kể trong những giây phút đầu tiên được hồi sức tích cực ngay sau khi sinh gây ra thay đổi đáng kể cấu trúc phổi.
+ Thông khí (Barotrauma & Volutrauma): trẻ sơ sinh nhận được thông khí liên tục qua ống nội khí quản do hội chứng suy hô hấp (RDS), hoặc các rối loạn khác (đặc biệt là khi máy thở áp lực cao và FiO2 cao ) trong một thời gian kéo dài.
+ Oxy độc tính
+ Bệnh màng trong không tiến triển tốt sau 3 – 4 ngày điều trị.
+ Nhiễm trùng.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ