ĐẠI CƯƠNG:
Sỏi mật là một bệnh lý hay gặp, có nhiều biến chứng nặng, tỷ lệ tử vong cao. Tỷ lệ tử vong sau mổ trước đây là 10%, nay còn khoảng 1%.
Sơ lược lịch sử: Từ trước công nguyên người ta đã phát hiện ra sỏi đường mật (SĐM). Năm 1877 Charcot mô tả tam chứng: đau, sốt, vàng da. Năm 1891 Hartmann phát hiện vi khuẩn trong dịch mật. Các kỹ thuật mổ như: mở dẫn lưu (DL) túi mật (Bobs -1867), cắt túi mật (Langenbuch-1882), mở ống mật chủ (OMC) (Langenbuch & Kummel-1884), nối OMC-tá tràng (Riedel-1888), mở rộng cơ Oddi (Mc Burney-1898), DL Kehr OMC-1897.
Đến nay nhờ những tiến bộ về chẩn đoán, điều trị và gây mê hồi sức đã đạt
được nhiều kết quả đáng kể làm giảm tỷ lệ biến chứng và tử vong do sỏi mật.
Một số đặc điểm bệnh lí của sỏi đường mật
Ở các nước Âu Mỹ gặp chủ yếu là sỏi túi mật (80-90%), thành phần cấu tạo chính của sỏi là Cholesterol (75-85%).
Ở Việt Nam: Sỏi đường mật chính trong và ngoài gan chiếm đa số (70-95%), trong đó sỏi trong gan (STG) chiếm tỷ lệ đáng kể: 20-56%.
SĐM chính dễ gây tắc mật, nhiễm khuẩn đường mật, các biến chứng thấm mật phúc mạc, viêm phúc mạc mật…; sỏi trong gan dễ gây tái phát, áp xe đường mật, chít hẹp đường mật…Gần đây tỷ lệ sỏi túi mật cũng đã gia tăng (22-36%) gây các biến chứng viêm mủ túi mật, hoại tử túi mật…
Thành phần cấu tạo chính của sỏi là sắc tố mật và chủ yếu là sỏi phức (73,3%). Sỏi túi mật 50% là sỏi cholesterol và 50% là sỏi sắc tố mật, trong khi đó sỏi OMC và sỏi trong gan chủ yếu là sỏi sắc tố mật (80%), Sỏi thường nhiều viên, hình thù khác nhau.
Sỏi thường kèm theo nhiễm khuẩn đường mật (tỷ lệ vi khuẩn ái khí từ 81,7- 91%, vi khuẩn kỵ khí từ 31- 61%), trong đó chủ yếu là E. Coli (50-70%) và giun lên đường mật (20-51%). Hai yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong quá trình
hình thành sỏi và các biến chứng của SĐM.
MỘT SỐ TRIỆU TRỨNG CHÍNH CỦA SỎI ĐƯỜNG MẬT:
Lâm sàng:
Đau vùng gan mật hạ sườn phải (cơn đau quặn gan) (80-90%).
Sốt rét cao, rét run (65-85%).
Vàng da và niêm mạc (45-70%), nước tiểu vàng.
Hiện nay tam chứng Charcot chỉ chiếm khoảng gần 50%.
Bệnh nhân thường có tiền sử sỏi mật (90%) (có đau sốt vàng da nhiều lần hoặc đã mổ mật cũ hoặc tiền sử giun chui ống mật).
Túi mật căng to (20-40%) hoặc trong tiền sử có túi mật căng trong cơn đau (29%).
Cận lâm sàng
Số lượng bạch cầu tăng, tỷ lệ bạch cầu đa nhân trung tính tăng.
Bilirubin máu tăng cao, photphattaza kiềm tăng.
Urê máu tăng, nước tiểu có sắc tố mật và muối mật.
X quang chụp bụng không chuẩn bị có thể phát hiện sỏi túi mật (sỏi cholesterol).
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ