HomeBài giảng Nội khoa

Các xét nghiệm đông máu: Xét nghiệm Protein C (PC)

Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị giảm đau sau phẫu thuật
Bệnh Crohn: Sinh lý bệnh, chẩn đoán và điều trị
Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị viêm cơ tim sau tiêm chủng vắc xin phòng COVID-19
Nạo Sẩy Thai
Ối Vỡ Sớm, Ối Vỡ Non

Protein C có thời gian bán hủy khoảng 6 giờ.  

Mặc dù warfarin và những antagonist vitamin K (VKA) khác gây ra một sự suy giảm chức năng trong protein C những yếu tố đông máu phụ thuộc vitamin K khác, dạng carboxylated và acarboxylated từng phần của các yếu tố đông máu có thời gian bán hủy trong huyết tương ngắn hơn một nửa và vì vậy mức miễn dịch suy giảm.

Sơ đồ gene protein C nằm ở 2q13-14 và mã hóa protein 429 amino acid.

Protein C tăng theo tuổi và thấp lúc sinh (cũng như tất cả các yếu tố đông máu phụ thuộc vitamin K), một số nghiên cứu chỉ ra rằng mức PC không đạt được giá trị như người lớn mãi cho đến 17 tuổi.

Kháng nguyên PC cũng có thể đo bằng phương pháp Laurell Electroimmunoassay (“Những viên đá”) nhưng hiếm khi được thực hiện ngày nay.

Xét nghiệm tạo màu PC đặc hiệu cho những đột biến tác động lên hoạt tính xúc tác của nó. Những trường hợp xét nghiệm hoạt tính tạo màu bình thường nhưng xét nghiệm chức năng dựa trên cục máu đông giảm, đã được báo cáo.

PC giảm thê thảm trong nhiễm trùng huyết do não mô cầu.

GIỚI THIỆU

PC là một serine protease phụ thuộc vitamin K trọng lượng 62kDa và là thành phần cốt lõi của hệ thống chống đông tự nhiên.

Nó lưu hành trong tuần hoàn dưới dạng protein chuỗi đơn và được chuyển thành dạng hoạt động bởi thrombin (đôi khi được gọi là APC – Activated Protein C), khi đó, nó cùng với cofactor của mình – Protein S, bất hoạt FVa và FVIIIa. Sự hoạt hóa PC thành APC xảy ra tương đối chậm khi chỉ có sự hiện diện của thrombin đơn độc, nhưng tốc độ sẽ tăng lên đáng kể khi thrombin được gắn vào protein xuyên màng  Thrombomodulin [Tm]. Thrombin gắn với Tm không có hoạt tính tiền đông nhưng hoạt tính chống đông lại nổi bật nhờ con đường PC-PS.

Bên cạnh hoạt tính chống đông, APC cho thấy cả hoạt tính chống viêm và chống apotosis. APC cũng gắn với PAI-1 và vì vậy ngắn cản t-PA, từ đó tăng hoạt tính tiêu sợi huyết. APC bị ức chế bởi PCI – Protein C Inhibitor (trước đây còn được gọi là PAI-3) – một thành viên của gia đình SERPIN (Khái niệm SERINE và SEPIN, bạn đọc tham khảo thêm)

Suy giảm PC là một rối loạn di truyền trội NST thường, làm tăng nguy cơ VTE với mức độ phụ thuộc vào đồng hợp hay dị hợp.

Suy giảm PC đồng hợp tử là hiếm gặp, hiện diện ở trẻ sơ sinh với chấm xuất huyết ác tính (một dạng của DIC đặc trưng bởi hoại tử và xuất huyết da lan rộng), dẫn đến tử vong nhanh chóng nếu không điều trị thay thế PC kịp thời. Những người đột biến thể dị hợp, Warfarin tạo ra hiện tương tự vì nó làm giảm PC trước (vốn dĩ PC có thời gian bán hủy ngắn) sau đó mới giảm các yếu tố đông máu phụ thuộc vitamin K. Vì vậy, mặc dù vai trò của warfarin như một chất chống đông, nó tạo ra tình trạng tăng đông đặc trưng bởi sự tạo thành huyết khối trong các mạch máu nhỏ ở da, gây hoạt ử da lan rộng. Đây là một hiện tượng hiếm. Đề kháng PC hoạt hóa (Activated PC Resistance – APCR) là sự mất khả năng cắt FVa và FVIIIa của PC. Điều này có thể là di truyền hoặc mắc phải nhưng thường do sự bất thường trong đích tác động của APC hơn là bản thân PC. Ví dụ phổ biến của APCR là do đột biến V Leiden.

NGUYÊN LÝ

PC có thể được đo bởi:

ELISA: Lưu ý xét nghiệm này chỉ cho biết số lượng, không phải chức năng.

Xét nghiệm dựa vào thời gian cục máu đông theo APTT: thời gian tạo thành cục máu đông sau khi cho chất hoạt hóa PC vào, từ đó suy ra lượng PC.

Phương pháp tạo màu: sử dụng chất hoạt hóa PC là ProtacTM, chiết xuất từ nọc độc của Akistrodon contortrix.

Test dựa vào sự tạo thành thrombin cũng được sử dụng

PHƯƠNG PHÁP

ELISA: Sử dụng kháng thể đơn dòng hoặc đa dòng chống lại PC.

Xét nghiệm PC dựa vào cục máu đông: Có thể dựa vào PT hoặc APTT, mặc dù APTT được dùng phổ biến. Như xét nghiệm APTT, ở đây cho thêm chất hoạt hóa PC, thời gian APPT phụ thuộc vào số lượng FVa, FVIIIa => phụ thuộc vào APC => Phụ thuộc vào PC. Nếu mức PC thấp thì APTT sẽ ngắn lại.

Phương pháp tạo màu: đo lượng chất APC thông qua cơ chất tạo màu.

PHÂN TÍCH KẾT QUẢ

Không có một xét nghiệm PC là độ nhạy và đặc hiệu 100% cho các bất thường.

ELISA: Đo mức miễn dịch của PC với độ nhạy cao nhưng không phản ánh chức năng. Phức hợp PC với chất ức chế của nó có thể được nhận ra bởi ELISA mà không thể với các xét nghiệm khác.

Phương pháp tạo màu: xác định mức thấp PC với độ nhạy cao và xác định hầu hết bất thường chức năng nhưng không phải tất cả – ví dụ khiếm khuyết gắn vào màng phospholipid do đột biến ở domain Gla, vì xét nghiệm này không phụ thuộc vào phospholipid. Tương tự, xét nghiệm này cũng không phụ thuộc vào PS.

Xét nghiệm chức năng PC dựa vào APTT có thể nhầm lẫn với mức PC thấp, sự hiện diện đột biến V leiden và một số nguyên nhân khác của APCR, tăng mức FVIII, tăng lipid máu. Kết quả bình thường giả khi có kháng đông lupus và bệnh nhân dùng DTI, sử dụng xét nghiệm APTT theo dõi.

Những điều sau nên được quan tâm khi diễn giải kết quả

Nguyên nhân làm PC “có vẻ” thấp (Làm rút ngắn APTT) Nguyên nhân làm PC thấp thật sự
Đột biến FV Leiden Tăng FVIII huyết tương Những nguyên nhân APCR khác Tăng lipid máu. Di truyền:

Suy giảm PC dị hợp (gặp ở 0.2% dân số và 3% bệnh nhân VTE)

Suy giảm PC đồng hợp (hiếm)

Mắc phải: (phổ biến hơn nhiều)

Phản ứng pha cấp

DIC

Bệnh gan

Vitamin K antagonists

Hồng cầu hình liềm

KHOẢNG THAM CHIẾU

Trẻ sơ sinh có mức PC thấp lúc sinh khoảng 40IU/dl tăng lên theo tuổi và đạt mức 60IU/dl sau dậy thì. Khoảng tham chiếu ở người lớn là 65-135 IU/dl.

ĐỀ NGHỊ XÉT NGHIỆM NÀO TIẾP?

Test dựa vào APTT có thể bị ảnh hưởng bởi LA, bệnh nhân nên được sàng lọc điều này.

PC thường là một phần trong bộ đánh giá tăng đông. Những test khác gồm PS, gene cho FV Leiden, G2010A cho đột biến prothrombin, mức homocysteine.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Gempeler-Messina, P.M., Volz, K., Buhler, B. & Muller, C. (2001) Protein C activators from snake venoms and their diagnostic use. Haemostasis, 31, 266-272.

Nishioka, J., Ning, M., Hayashi, T. & Suzuki, K. (1998) Protein C inhibitor secreted from activated platelets efficiently inhibits activated protein C on phosphatidylethanolamine of platelet membrane and microvesicles. J Biol Chem, 273, 11281-11287.

Elisen, M.G., van Kooij, R.J., Nolte, M.A., Marquart, J.A., Lock, T.M., Bouma, B.N. & Meijers, J.C. (1998) Protein C inhibitor may modulate human sperm-oocyte interactions. Biol Reprod, 58, 670-677.

Wright, J.G., Malia, R., Cooper, P., Thomas, P., Preston, F.E. & Serjeant, G.R. (1997) Protein C and protein S in homozygous sickle cell disease: does hepatic dysfunction contribute to low levels? Br J Haematol, 98, 627-631.

Hezard, N., Bouaziz-Borgi, L., Remy, M.G., Florent, B. & Nguyen, P. (2007) Protein C deficiency screening using a thrombin-generation assay. Thromb Haemost, 97, 165-166.

Smith, O.P., White, B., Vaughan, D., Rafferty, M., Claffey, L., Lyons, B. & Casey, W. (1997) Use of protein-C concentrate, heparin, and haemodiafiltration in meningococcusinduced purpura fulminans. Lancet, 350, 1590-1593.

COMMENTS

WORDPRESS: 0