Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh
Nội Cơ xương khớp BẢN ĐỌC THỬ

Cập nhật điều trị thoái hóa và thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng

33 phút đọc

PGS.TS. Hà Hoàng Kiệm. BV 103. Học viện Quân Y

(Trích trong cuốn “Thoái hóa khớp, chẩn đoán, điều trị và dự phòng”. Hà Hoàng Kiệm. NXB TT và DL 2019) 

1. Điều trị bằng thuốc (cho cả thoái hóa và thoát vị đĩa đệm)

Cho đến nay, các thuốc chỉ có tác dụng điều trị triệu chứng mà không điều trị được thoái hóa cột sống thắt lưng, không làm phục hồi được các tổn thương thoái hóa. Quá trình thoái hóa cột sống thắt lưng tiến triển ngày càng nặng, do vậy thường phải dùng thuốc lâu dài, cần chú ý đến các tác dụng phụ của thuốc.

– Các thuốc giảm đau: Các thuốc giảm đau dẫn xuất từ salicilat như Methyl salicilat, Natrisalicilat. Các dẫn xuất của pirazolon như Alnagin, Phenylbutazol. Nhóm paracetamol như Acetaminophen, Paracetamol. Các thuốc giảm đau ít gây tác dụng không mong muốn cho thận và dạ dày hơn so với các thuốc chống viêm non steroid.

Có thể dùng đơn độc các thuốc giảm đau hoặc phối hợp với các thuốc kháng viêm non steroid liều thấp. Trong trường hợp có chèn ép rễ hoặc dây thần kinh như trong hội chứng thắt lưng hông, nên phối hợp với các thuốc giảm đau thần kinh (Neurontin, Gabapentin, Pregabalin, viên 300mg). Trong các trường hợp đau mạn tính có thể phối hợp với thuốc chống trầm cảm ba vòng như Amitriptylin (Amitriptylin, Elavil: viên 10 mg, 25 mg, 50 mg, 75 mg, 100 mg, 150 mg).

– Thuốc chống viêm non steroid. Các thuốc chống viêm non steroid có hai nhóm:

+ Nhóm có tác dụng không chọn lọc: Các dẫn xuất của indol (Indomethacin, Sulindac), các dẫn xuất phenylacetic (Diclofenac, Voltaren, Fentiazac), các dẫn xuất propionic (Ibuprofen, Naproxen), các dẫn xuất oxicam (Pirocicam, Feldene, Tenoxicam, Tilcotil).

+ Nhóm có tác dụng chọn lọc trên COX-2: meloxicam (Mobic), nimexulide, họ coxibs (Ferrocoxib, Celecoxib, Valdecoxib, Etoricoxib).

Các thuốc chống viêm non steroid thường được sử dụng khi có đau thắt lưng cấp, hoặc đau mạn tính nhưng mức độ nặng. Nên sử dụng các thuốc chống viêm non steroid ức chế chọn lọc COX-2 để hạn chế tác dụng không mong muốn. Các thuốc chống viêm non steroid không có tác dụng điều trị thoái hóa mà chỉ có tác dụng điều trị triệu chứng. Cần theo dõi và dự phòng các tác dụng không mong muốn của thuốc. Trong trường hợp đau thắt lưng cấp hoặc hội chứng thắt lưng hông nặng, có thể dùng đường tiêm bắp và thường phối hợp với thuốc giãn cơ trơn ngoại vi như myonal, mydocalm giúp tăng hiệu quả giảm đau.

– Corticoid: Không có chỉ định điều trị corticoid đường toàn thân trong thoái hóa cột sống thắt lưng. Trong một số trường hợp có thể điều trị tại chỗ thường rất có hiệu quả đối với các triệu chứng đau của hội chứng thắt lưng hông, có các kỹ thuật:

+ Tiêm corticoid vào khoang ngoài màng cứng.

+ Phong bế khoang cùng

+ Phong bế rễ thần kinh cạnh sống

Các thuốc thường được sử dụng:

+ Hydrocortison acetate: mỗi đợt 3 – 4 mũi, tiêm cách nhau 5 – 7 ngày. Không tiêm quá 4 mũi/đợt.

+ Các chế phẩm có tác dụng trung bình và dài như Diprospan, Depomedrol: 2 – 3 mũi, cách nhau 6 – 8 ngày.

– Thuốc giãn cơ vân: Khi có co cứng cơ cạnh sống, có thể sử dụng nhóm thuốc giãn cơ tác dụng ngoại vi như Myonal, mydocam. Thành phần của thuốc là Eperisone hydrochloride, có tác dụng ức chế hoạt động của sợi thần kinh hướng tâm (sợi Ia) từ thoi cơ sau uống thuốc 20 phút. Thuốc còn ức chế sự phóng thích điện tự ý của các nơron vận động gamma, vì vậy làm giảm sự nhạy cảm của thoi cơ thông qua các nơron vận động gamma. Thuốc chỉ tác dụng ở ngoại vi trên vòng gamma motoneuron ở mức tủy sống gây ra giãn cơ vân. Thuốc còn làm tăng các tác dụng hủy thần kinh giao cảm ở cơ và đối kháng Ca2+ trên cơ trơn mạch máu nên làm giãn mạch và làm tăng lưu lượng máu.

– Thuốc y học cổ truyền: Sử dụng các bài thuốc đông y có thành phần từ các cây dược liệu. Các bài thuốc cổ phương hoặc các bài thuốc dân gian điều trị đau thắt lưng có tác dụng lâm sàng tương đối tốt.

– Thuốc bảo vệ và phục hồi chức năng thần kinh: Nếu có hội chứng chèn ép rễ (hội chứng thắt lưng hông), cần sử dụng thêm các thuốc bảo vệ và phục hồi chức năng thần kinh ngoại vi .

+ Thuốc vitamin nhóm B liều cao: Neurobion, H500, Methylcoban… Các thuốc trên cung cấp các vitamin nhóm B liều cao (B1, B6, B12) giúp tăng cường chuyển hóa của tế bào thần kinh, phục hồi tổn thương thần kinh ngoại vi. Các nghiên cứu cho thấy khi phối hợp ba vitamin B1, B6, B12 với nhau, chúng có tác dụng hiệp đồng trong chuyển hóa của tế bào thần kinh, cho kết quả lâm sàng tốt hơn là dùng các vitamin trên đơn độc.

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

Gửi bình luận

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Trang Chủ