Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh
Nội Lão khoa BẢN ĐỌC THỬ

Hạ huyết áp tư thế

15 phút đọc

Biên tập: Andrea D. Thompson, MD, PhD, University of Michigan;

Michael J. Shea, MD, Michigan Medicine at the University of Michigan

  • Sinh lý bệnh
  • Nguyên nhân
  • Đánh giá
  • Điều trị
  • Các điểm thiết yếu ở người cao tuổi
  • Những điểm chính
  • Thông tin thêm

Hạ huyết áp tư thế là sự suy giảm huyết áp tư thế quá mức khi đứng dậy. Định nghĩa đồng thuận là giảm > 20 mm Hg tâm thu, 10 mm Hg tâm trương, hoặc cả hai. Các triệu chứng ngất, hoa mắt chóng mặt, lẫn lộn hoặc nhìn mờ có thể kéo dài trong vài giây tới vài phút khi đứng dậy và biến mất nhanh chóng khi nằm xuống. Một số bệnh nhân có thể có biểu hiện choáng, ngất, thậm chí xuất hiện co giật toàn thể. Triệu chứng có thể biểu hiện sau hoạt động thể lực hoặc sau một bữa ăn no. Hầu hết các triệu chứng cơ năng và thực thể đi kèm đều liên quan tới bệnh lý nguyên nhân gây ra hạ huyết áp tư thế.

Hạ huyết áp tư thế không phải là một bệnh lý riêng biệt, mà được coi là sự bất thường trong quá trình điều hòa huyết áp do rất nhiều bệnh lý gây ra. Bằng chứng ngày càng cho thấy các rối loạn kiểm soát huyết động tư thế làm tăng nguy cơ bệnh tim mạch và tử vong do mọi nguyên nhân.

Hội chứng nhịp nhanh tư thế (POTS)

Hội chứng nhịp nhanh tư thế (còn có tên là hội chứng nhịp nhanh tự động tư thế hoặc hội chứng rối loạn dung nạp tư thế bẩm sinh) là một hội chứng rối loạn dung nạp tư thế, xuất hiện trên các đối tượng trẻ tuổi. POTS được xác định bởi một nhịp tim ≥ 120 nhịp/phút hoặc tăng ≥ 30 nhịp/phút khi bệnh nhân di chuyển từ tư thế nằm ngửa. Triệu chứng lâm sàng khá đa dạng (mệt mỏi, choáng váng, kém dung nạp với tập luyện, suy giảm nhận thức) đi kèm nhịp nhanh khi thay đổi tư thế; tuy nhiên huyết áp thường không giảm hoặc chỉ giảm nhẹ. Nguyên nhân gây ra các triệu chứng trên chưa được lý giải rõ ràng.

Sinh lý bệnh của hạ huyết áp thế đứng

Thông thường, áp lực trọng trường khi đứng đột ngột khiến máu (½ đến 1 L) đọng lại trong các tĩnh mạch của chân và thân. Hiện tượng này diễn ra thoáng qua, gây suy giảm dòng máu từ tĩnh mạch về tim, từ đó làm suy giảm cung lượng tim và gây hạ huyết áp. Các receptor nhận cảm áp lực tại cung động mạch chủ và xoang động mạch cảnh sẽ phản ứng bằng cách phát ra các xung phản xạ tự động để nhanh chóng đưa huyết áp trở lại bình thường. Hệ thống thần kinh giao cảm gây tăng nhịp tim, tăng lực co bóp cơ tim và tăng trương lực vận mạch. Hiện tượng ức chế phó giao cảm xảy ra cùng lúc cũng sẽ làm tăng nhịp tim. Ở hầu hết các trường hợp, những thay đổi về huyết áp và nhịp tim khi thay đổi tư thế đều ở mức độ nhẹ và thoáng qua, ít khi xuất hiện triệu chứng.

Nếu tiếp tục giữ nguyên tư thế đứng, dưới tác động của hệ thống renin-angiotensin-aldosterone và bài tiết vasopressin (hormone chống bài niệu [ADH]) sẽ gây tái hấp thu nước và natri, từ đó làm tăng lưu lượng tuần hoàn.

Căn nguyên của hạ huyết áp thế đứng

Các cơ chế điều hòa nội mô sẽ trở nên không còn hiệu quả trong việc phục hồi huyết áp nếu có phần hướng tâm, trung tâm hoặc ly tâm của cung phản xạ thần kinh tự động bị tổn thương do bệnh lý hoặc do thuốc, hoặc nếu do suy giảm sức co cơ tim hoặc đáp ứng thành mạch, hoặc nếu do tình trạng suy giảm khối lượng tuần hoàn hoặc rối loạn trong các đáp ứng hormone (xem bảng Nguyên nhân của Hạ huyết áp thế đứng).

Việc xác định nguyên nhân tùy thuộc vào tính chất các triệu chứng là cấp hay mạn tính.

Các nguyên nhân phổ biến nhất gây hạ huyết áp tư thế cấp bao gồm:

  • Giảm thể tích máu

  • Thuốc

  • Bất động trên giường kéo dài

  • Suy thượng thận

Các nguyên nhân phổ biến nhất gây hạ huyết áp tư thế mạn tính bao gồm:

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

Gửi bình luận

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Trang Chủ