ĐẠI CƯƠNG VỀ NHÓM MÁU
Trên màng tê bào thân của cơ thể người có những protein đặc trưng và những protein này có đặc tính kháng nguyên (kích thích các cơ thể thiếu nó tạo nên kháng thể). Trên màng hồng cầu có những kháng nguyên hồng cầu, trên màng bạch cầu, tiểu cầu có những kháng nguyên bạch cầu và tiểu cầu.
Cơ sở di truyền của nhóm máu
Các kháng nguyên nhóm máu là các sản phẩm protein trên màng hồng cầu, mà quá trình tổng hợp những protein này được mã hoá bởi các gen nằm trên nhiễm sắc thể, các gen tập hợp thành hệ thống. Sự phối hợp giữa các gen của một hay nhiều hệ thông (kiểu gen) sẽ tạo ra những tính trạng (kiểu hình) đó là nhóm máu. Ví dụ người nhóm máu AB là do có cả gen A và gen B trong hệ nhóm máu ABO; người nhóm máu Le (a-b+) là người đồng thời có gen Le của hệ Le le và gen Se của hệ So se
Một số khái niệm
Alen: là một dạng trong những dạng có thể của một hệ thông gen. Mỗi vị trí đặc thù trên nhiễm sắc thể (NST) gọi là locus chỉ có một alen. Ví dụ locus (vị trí gen) của hệ ABO nằm ở NST số 9 và ở đó chỉ một trong ba gen: A hoặc B hoặc O (A là alen của B và O, A và B là alen của O).
Các alen chiếm các locus hoàn toàn giông nhau trên 2 NST tương đồng và khi phân bào giảm nhiễm chúng phân ly độc lập với nhau.
Kiểu gen: là toàn bộ thông tin di truyền cho một hệ nhóm máu của một cá thể, nói lên sự có mặt của các alen của hệ thông đó.
Muôn xác định kiểu gen người ta thường suy diễn từ kiểu hình của cố thể phối hợp với nghiên cứu phả hệ. Ngày nay có thể sử dụng kỹ thuật sinh học phân tử để xác định kiểu gen.
Kiểu hình: là tính trạng được thể hiện.
Nhóm liên kết: là tập trung các gen ở trên cùng một NST; thường cùng đi với nhau qua phân bào giảm nhiễm.
Kháng nguyên nhóm máu
Là các kháng nguyên có mặt trên màng hồng cầu, có sự khác nhau giữa cá thể này và cá thế khác và được tập hợp thành từng hệ thống ứng với các đơn vị di truyền khác nhau. Các đơn vị di truyền nảy truyền từ thê hệ này sang thê hệ khác theo quy luật Menden.
Một điều lưu ý là nhiều hệ thống di truyền độc lập nhưng có thể hoạt động liên quan đế tạo ra các tính trạng nhóm máu như hệ ABO và Lewis.
Các kháng nguyên nhóm máu có khả năng kích thích sinh kháng thể và có một số đặc điểm.
Kháng nguyên hút và kháng nguyên bị che lấp
Một số kháng nguyên không do tế bào sản xuất ra mà được hút lên màng tế bào từ môi trường trong cơ thể (huyết tương) ví dụ kháng nguyên hệ Lewis.
Một số kháng nguyên khác bị che lấp và phải dùng biện pháp xử lý với men tiêu protein mới có thể phát hiện được bằng kháng thể tương ứng.
Kháng nguyên bộ phận và kháng nguyên phối hợp
Một phân tử kháng nguyên có thể có nhiều vị trí gọi là quyết định kháng nguyên, mỗi quyết định kháng nguyên sẽ kích thích cơ thể lạ sinh một loại kháng thê tương ứng ví dụ kháng nguyên X vào cơ thể lạ sẽ kích thích cơ thể sinh ra kháng thể chống A, chống B, chông C (hình 4.1)
Kháng nguyên

Hình 4.1. Các kháng thể a, b, c chống lại các kháng nguyên X
Hai kháng nguyên với hai kháng thể đặc hiệu khác nhau nhưng trong không gian khi hai kháng nguyên này kết hợp với nhau có thể tạo ra một cấu trúc mỏi và được xác định bằng một kháng thể thứ ba gọi là kháng nguyên phối hợp.
Phản ứng chéo
Nếu hai kháng nguyên khác nhau nhưng có một hoặc nhiều quyết định kháng nguyên giống nhau có thể có sự phản ứng chéo giữa kháng thể của kháng nguyên này chông kháng nguyên kia.
Kháng nguyên phổ biến
Một số kháng nguyên trên hồng cầu người nhưng cũng rất phổ cập trong tự nhiên.
Kháng thể nhóm máu (hống cầu)
Kháng thể xuất hiện sau miễn dịch khác nhóm, phần lớn là IgG hay IgM. Đặc biệt có kháng thể hồng cầu xuất hiện thường xuyên và tồn tại đều đặn mà không quạ một sự miễn dịch cụ thế nào gọi là kháng thể tự nhiên.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ