Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh
Ngoại tiêu hóa - Gan mật BẢN ĐỌC THỬ

Phẫu thuật nối mật – ruột

5 phút đọc

ĐẠI CƯƠNG:

Năm 1888, Riedel đã tiến hành lần đầu tiên nối ống mật chủ tá tràng và 10 năm sau đó Mc Burney đã áp dụng mở rộng cơ Oddi (1898).

Trên thế giới, phẫu thuật nối mật – ruột chiếm từ 19 – 47,6% trong số bệnh nhân mổ sỏi mật. Ở Việt Nam, tỷ lệ này là 4 – 12%.

CHỈ ĐỊNH:

Phẫu thuật nối mật – ruột được chỉ định đối với những trường hợp sỏi mật có chít hẹp cơ Oddi, chít hẹp đường mật, teo đường mật, sỏi mật kèm theo nang ống mật chủ, khối u vùng tá tụy, xơ cứng đầu tụy, tổn thương đường mật trong mổ.

Chỉ định tương đối trong trường hợp nhiều sỏi trong gan, mổ mật lại nhiều lần do sỏi sót và sỏi tái phát, nhiều bùn mật, hẹp bóng Vater mức độ vừa…

Chống chỉ định khi bệnh nhân đang ở trong tình trạng nặng, có bệnh lý ở cơ quan nối (tắc, hẹp, viêm, sẹo ở ruột), có viêm gan cấp hoặc viêm tụy cấp, bệnh lý tắc mật do giun…

PHƯƠNG PHÁP NỐI MẬT – RUỘT:

Nối ống mật chủ – tá tràng

Ưu điểm: Là phương pháp dễ thực hiện, an toàn, cho phép phục hồi sự lưu thông của mật xuống ruột trực tiếp và gần, sỏi nhỏ có khả năng qua được miệng nối…

Nhược điểm: Nhiễm khuẩn đường mật do trào ngược, giun lên đường mật qua miệng nối, có khả năng ứ đọng ở ống mật chủ nếu nối bên bên…

Kỹ thuật nối:

Nối ống mật chủ – tá tràng bên bên (phẫu thuật Sasse) hoặc nối tận bên (đường kính miệng nối phải rộng trên 2 cm, thường nối 2 lớp).

Nối tận bên là sinh lý hơn, tránh được hội chứng túi cùng song kỹ thuật khó hơn và dễ rò miệng nối. Kết quả xa là tương đương nhau.

Biến chứng sau mổ:

Gặp từ 9 – 32% mà đáng ngại là rò miệng nối, giun lên đường mật, hẹp và tắc miệng nối, viêm đường mật, hội chứng túi cùng.

Tỷ lệ tử vong sau mổ từ 5,7 – 11%. Kiểm tra kết quả xa sau mổ đạt tỷ lệ tốt từ 60 – 94%. (Kiểm tra miệng nối bằng chụp X quang đường mật qua soi tá tràng).

Richelme & CS (1982) đã mổ nối ống mật chủ – tá tràng cho 100 bệnh nhân sỏi mật, trong đó nối bên bên là 67 bệnh nhân và nối tận bên là 33 bệnh nhân.

P.V. Mạnh (1976) nối ống mật chủ – tá tràng cho 69 bệnh nhân và ống mật chủ – hỗng tràng cho 23 bệnh nhân.

Nối ống mật chủ – hỗng tràng

Ưu điểm: Nối ống mật chủ – hỗng tràng kiểu Y giúp hạn chế tỷ lệ nhiễm khuẩn đường mật ngược dòng do trào ngược.

Nhược điểm: Kỹ thuật khó khăn hơn, thời gian sau mổ lâu hơn, có hội chứng quai chữ Y, vẫn còn nhiễm trùng đường mật ngược dòng.

Kỹ thuật:

Nối ống mật chủ – hỗng tràng kiểu Y: Cắt rời hỗng tràng dưới góc Treitz khoảng 30cm, quai hỗng tràng đưa lên nối với ống mật chủ (tức một nhành của chữ Y) phải dài khoảng 50cm.

Biến chứng sau mổ:

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

Gửi bình luận

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Trang Chủ