Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh
Nội khoa BẢN ĐỌC THỬ

Triệu chứng ICU : Tình trạng dịch và chức năng thận

15 phút đọc

CÁC TÌNH TRẠNG DỊCH

Qúa tải dịch

Quá tải dịch và phù là dấu hiệu của khối lượng dịch ngoại bào dư thừa. Cơ chế bệnh sinh cơ bản là, trong hầu hết các trường hợp, sự gia tăng natri ngoại bào liên kết với nước và sau đó mở rộng không gian ngoại bào. Mặc dù giữ nước và natri là một phản ứng sinh lý đối với bệnh lý, chấn thương và căng thẳng, một tỷ lệ đáng kể tình trạng quá tải dịch ở bệnh nhân bị bệnh nặng xảy ra do truyền dịch tự do có chứa lượng natri cao. Do đó, phù không chỉ là một chỉ số về mức độ nghiêm trọng của bệnh mà còn phản ánh tổn thương do y sinh (do điều trị)

Nếu hồi lưu tĩnh mạch tim trái vượt quá khả năng đổ đầy tâm trương, áp lực tĩnh mạch phổi tăng, và khoảng kẽ sau đó là phù phổi phế nang xảy ra. Điều này có thể là do sự gia tăng tuyệt đối của hồi lưu tĩnh mạch, suy giảm chức năng tim hoặc kết hợp cả hai. Mặc dù sự tích tụ của nước trong phổi ở ngoài mạch máu cuối cùng xảy ra ở tất cả các bệnh nhân có liên quan quá tải dịch, phù phổi phát triển sớm hơn ở những người bị rò rỉ mao mạch. Triệu chứng đầu tiên của quá tải dịch tại phổi là tăng nhịp hô hấp; ho khan, tăng dần; và một kiểu thở tắc nghẽn (xem Phần II Giáo trình 5.1.6.) do chèn ép đường thở nhỏ ở các vùng phổi phụ thuộc.

Khi nghe, những điều trên được nghe như một tiếng thở khò khè cả hay đáy phế trường. Khi sự tích tụ dịch trong phổi tiến triển và dịch phù nề đi vào phế nang, những tiếng ran nhỏ được nghe thấy trong quá trình nghe vào giữa / hay cuối thì thở ra. Dấu hiệu lâm sàng của phù phổi thẳng là dấu hiệu muộn của tình trạng quá tải dịch.

Bụng và đường dạ dày ruột

Quá tải dịch gây phù nề thành ruột, đặc biệt là sau phẫu thuật đường tiêu hóa và ở bệnh nhân tăng áp cửa. Phù nề đường tiêu hóa làm suy yếu nhu động ruột và tạo điều kiện cho sự di chuyển của vi khuẩn và liệt ruột. Bụng chướng, âm nhu động ruột giảm tối thiểu hoặc vắng mặt, thể tích tồn lưu dạ dày tăng và không có nhu động ruột là triệu chứng điển hình ở những bệnh nhân này. Cổ trướng có thể phát triển trong tình trạng quá tải dịch đáng kể. Ở những bệnh nhân bị bệnh lý ở bụng (viêm tụy, chấn thương) hoặc bỏng nặng, phù nề đường tiêu hóa và cổ trướng có thể làm tăng áp lực trong ổ bụng dẫn đến hội chứng tăng áp lực ổ bụng (xem Phần II. 8.3.). Tăng áp lực trong ổ bụng làm giảm độ chun dãn hệ hô hấp (cả phổi và thành ngực) và tăng nhịp hô hấp. Điều này thường đi kèm với một kiểu thở tắc nghẽn và cuối cùng là một kiểu thở hạn chế. Đè xẹp tĩnh mạch chủ dưới làm suy yếu cả dẫn lưu máu tĩnh mạch của thận và hồi lưu tĩnh mạch của tim. Điều này, đến lượt nó, làm giảm tưới máu thận và mức lọc cầu thận giải thích tại sao thiểu niệu là một trong những chỉ số lâm sàng sớm nhất và phổ biến nhất của hội chứng tăng áp lực ổ bụng. Ngược lại, sự hiện diện của lợi tiểu đầy đủ là một dấu chứng lâm sàng cho thấy sự hiện diện của hội chứng tăng áp lực ổ bụng là không thể.

Thận

Giảm mức lọc cầu thận và lượng nước tiểu thường xuyên góp phần vào sự tích tụ dịch ngoại bào và hình thành phù nề trong giai đoạn bệnh nặng. Trái ngược với lịch sử tin rằng truyền dịch tự do bảo vệ chức năng thận, quá tải dịch làm suy yếu tốc độ lọc cầu thận và chức năng thận. Vì bao xơ bao quanh thận là khá chặt, phù khoang kẽ trong mô làm tăng nhanh áp lực nhu mô và gây suy giảm lưu lượng máu thận và mức lọc cầu thận (“hội chứng chèn ép khoang thận”; lưu ý: tăng áp lực nhu mô thận và căng bao thận sẽ gây đau ở một số bệnh nhân bị tổn thương thận cấp !). Tăng áp lực tim phải làm suy yếu thêm dẫn lưu tĩnh mạch thận và lọc cầu thận. Dẫn lưu tĩnh mạch gan và tưới máu gan cũng bị tổn thương theo cách tương tự. Ngoài ra, giảm tưới máu gan sẽ kích hoạt phản xạ gan – thận, dẫn đến tình trạng giữ nước ở ống và nước. Như đã nêu ở trên, sự gia tăng áp lực trong ổ bụng (liên quan đến quá tải dịch) làm tắc nghẽn dòng chảy tĩnh mạch thận góp phần gây ra thiểu niệu và tổn thương thận cấp tính.

Sự lành vết thương

Suy giảm khả năng lành vết thương là một biến chứng thường gặp khác của quá tải dịch và phổ biến nhất là sau phẫu thuật bụng. Dấu hiệu lâm sàng là phù nề mô cục bộ, hở vết thương, tăng tiết dịch huyết thanh vết thương và trong trường hợp nghiêm trọng là bụt chỉ khâu.

Dấu mất nước

🔒

Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung

Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.

Chưa có tài khoản? Chọn đăng ký để thanh toán và nhận thông tin đăng nhập qua email.
Hỗ trợ: Hotline 0888.016.016

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

Gửi bình luận

Trang Chủ