Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh
Ngoại tiêu hóa - Gan mật BẢN ĐỌC THỬ

Biến chứng của sỏi mật – thái độ xử trí

13 phút đọc

ĐẠI C­ƯƠNG:

Sỏi mật là một bệnh lý hay gặp, có nhiều biến chứng nặng, tỷ lệ tử vong cao. Tỷ lệ tử vong sau mổ tr­ước đây là 10%, nay còn khoảng 1%.

Sơ lược lịch sử: Từ trư­ớc công nguyên người ta đã phát hiện ra sỏi đường mật (SĐM). Năm 1877 Charcot mô tả tam chứng: đau, sốt, vàng da. Năm  1891 Hartmann phát hiện vi khuẩn trong dịch mật. Các kỹ thuật mổ như­: mở dẫn lưu (DL) túi mật (Bobs -1867), cắt túi mật (Langenbuch-1882), mở ống mật chủ (OMC) (Langenbuch & Kummel-1884), nối OMC-tá tràng (Riedel-1888), mở rộng cơ Oddi (Mc Burney-1898), DL Kehr OMC-1897.

Đến  nay  nhờ  những  tiến bộ về chẩn đoán, điều trị và gây mê hồi sức đã đạt

đ­ược nhiều  kết  quả  đáng  kể làm giảm tỷ lệ biến chứng và tử vong do sỏi mật.

Một số đặc điểm bệnh lí của sỏi đư­ờng mật

Ở các nước Âu Mỹ gặp chủ yếu là sỏi túi mật (80-90%), thành phần cấu tạo chính của sỏi là Cholesterol (75-85%).

Ở Việt Nam: Sỏi đ­ường mật chính trong và ngoài gan chiếm đa số (70-95%), trong đó sỏi trong gan (STG) chiếm tỷ lệ đáng kể: 20-56%.

SĐM chính dễ gây tắc mật, nhiễm khuẩn đường mật, các biến chứng thấm mật  phúc  mạc, viêm  phúc  mạc  mật…; sỏi  trong  gan  dễ gây tái phát, áp xe đ­ường mật, chít hẹp đ­ường mật…Gần đây tỷ lệ sỏi túi mật cũng đã gia tăng (22-36%) gây các biến chứng viêm mủ túi mật, hoại tử túi mật…

Thành phần cấu tạo chính của sỏi là sắc tố mật và chủ yếu là sỏi phức (73,3%). Sỏi túi mật 50% là sỏi cholesterol và 50% là sỏi sắc tố mật, trong khi đó sỏi OMC và sỏi trong gan chủ yếu là sỏi sắc tố mật (80%), Sỏi thường nhiều viên, hình thù khác nhau.

Sỏi thư­ờng kèm theo nhiễm khuẩn đư­ờng mật (tỷ lệ vi khuẩn ái khí từ 81,7- 91%, vi khuẩn kỵ khí từ 31- 61%), trong đó chủ yếu là E. Coli (50-70%) và giun lên đ­ường mật (20-51%). Hai yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong quá trình

hình thành sỏi và các biến chứng của SĐM.

MỘT SỐ TRIỆU TRỨNG CHÍNH CỦA SỎI Đ­ƯỜNG MẬT:

Lâm sàng:

Đau vùng gan mật hạ s­ườn phải (cơn đau quặn gan) (80-90%).

Sốt rét cao, rét run (65-85%).

Vàng da và niêm mạc (45-70%), n­ước tiểu vàng.

Hiện nay tam chứng Charcot chỉ chiếm khoảng gần 50%.

Bệnh nhân thường có tiền sử sỏi mật (90%) (có đau sốt vàng da nhiều lần hoặc đã mổ mật cũ hoặc tiền sử giun chui ống mật).

Túi mật căng to (20-40%) hoặc trong tiền sử có túi mật căng trong cơn đau (29%).

Cận lâm sàng

Số lượng bạch cầu tăng, tỷ lệ bạch cầu đa nhân trung tính tăng.

Bilirubin máu tăng cao, photphattaza kiềm tăng.

Urê máu tăng, nước tiểu có sắc tố mật và muối mật.

X quang chụp bụng không chuẩn bị có thể phát hiện sỏi túi mật (sỏi cholesterol).

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

Gửi bình luận

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Exit mobile version
Trang Chủ