Tỷ lệ:
C.Got (1974): trên 857 cas chấn thương bụng, tổn thương tụy đứng thứ
7 (4,43%).
Thomason và cộng sự: gặp 1- 5% trong chấn thương bụng kín
Viện quân Y 103 và 108: chấn thương tụy gặp 4,7% trong chấn thương bụng kín chiếm 9,3% trong tổn thương tạng đặc.
PHÂN LOẠI TỔN THƯƠNG:
Vị trí: có thể gặp ở đầu, cổ, thân hoặc đuôi tụy: thường bị ở phần cổ thân và đuôi tụy vì nằm trên cột sống.
Theo mức độ tổn thương: Herve (1905) chia ra:
Chạm thương: tụ máu trong bao (chấn thương đơn giản)
Vỡ 1 phần tụy (dập nát nhu mô)
Tổn thương Wirsung: thường ít bị, theo Mocquot và Constantini thì ống Wirsung đặc biệt bền. Tổn thương ống Wirsung có thể là một phần hay toàn bộ.
Vỡ toàn phần đứt đôi
Theo tính chất:
Tổn thương đơn thuần
Tổn thương phối hợp: thường bị là tá tràng
CHẨN ĐOÁN CHẤN THƯƠNG TỤY
Lâm sàng:
Nói chung chẩn đoán lâm sàng chấn thương tụy là rất khó và tụy nằm sâu phúc mạc nên các dấu hiệu biểu hiện lâm sàng không rõ.
Tuy không có giá trị chẩn đoán quyết định nhưng các dấu hiệu lâm sàng cho hướng chẩn đoán để làm xét nghiệm hay mổ thăm dò:
Đau bụng
Co cứng thành bụng hay phản ứng thành bụng thường không rõ
Có dấu hiệu kích thích phúc mạc
Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung
Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ