HẠ HUYẾT ÁP:
Là giảm đáng kể huyết áp động mạch dưới ranh giới bình thường của bệnh nhân. Nó có thể do bởi giảm chức năng tim (co bóp), sức cản mạch hệ thống (SVR), máu tĩnh mạch trở về hoặc loạn nhịp tim.
Co bóp:
Phần lớn thuốc mê bao gồm thuốc mê bốc hơi, barbiturat và benzodiazepin gây ức chế cơ tim trực tiếp lệ thuộc liều. Opiat không ức chế cơ tim trực tiếp với liều thường dùng lâm sàng.
Thuốc tim mạch: như thuốc chống chủ vận beta-adrenergic, thuốc phong bế kênh canxi và lidocain là thuốc ức chế tim mạch
Rối loạn chức năng tim cấp: có thể xảy ra với thiếu máu cơ tim hoặc nhồi máu cơ tim (MI), giảm canxi máu, toan chuyển hóa hoặc kiềm chuyển hóa nặng, thân nhiệt dưới 32 độ C, bệnh tim do phổi, phản xạ dây X, ngộ độc thuốc tê (đặc biệt với bupivacain)
Giảm SVR
Giảm SVR có thể được nhận thấy với nhiều thuốc sử dụng trong gây mê:
Isofluran và mức độ ít hơn là sevofluran, desfluran gây giảm SVR
Opiat và propofol gây mất trương lực mạch máu bởi giảm dòng ra hệ thần kinh giao cảm.
Benzodiazepin có thể giảm SVR, đặc biệt khi được sử dụng với liều cao opiat
Giãn mạch trực tiếp như nitroprussid, nitroglycerin, hydralazin
Thuốc phong bế alpha-adrenergic như droperidol, chlorpromazin, phentolamin, labetalol
Thuốc chủ vận alpha-adrenergic như clonidin
Thuốc giải phóng histamin như d-tubocurarin, mivacurium, morphin
Thuốc ức chế hạch như trimetaphan
Thuốc phong bế kênh canxi
Thuốc ức chế men chuyển đổi angiotensin và phong bế thụ thể angiotensin
Milrinon
Phong bế giao cảm: thường xảy ra trong gây tê tủy sống và gây tê ngoài màng cứng dẫn đến giảm SVR
Nhiễm khuẩn huyết: gây giải phóng chất vận mạch gây hoạt hóa hạ huyết áp
Các chất chuyển hóa vận mạch: như sau thao tác ruột hoặc tháo garo có thể gây hạ huyết áp
Phản ứng dị ứng: có thể gây hạ huyết áp sâu.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ