Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Tình huống lâm sàng HSCC: Liệu pháp dinh dưỡng trong giai đoạn bệnh nặng

34 phút đọc

Jayshil Patel, Ryan T. Hurt và Manpreet Mundi

TÓM TẮT CÁC ĐIỂM CHÍNH

Bệnh nguy kịch có thể kích hoạt phản ứng căng thẳng chuyển hóa quá mức, dẫn đến dị hóa không kiểm soát được, đỉnh điểm là thiếu hụt calo, ly giải protein và kháng đồng hóa.

Hỗ trợ dinh dưỡng đã phát triển thành “liệu pháp” dinh dưỡng, trong đó một loại thuốc tăng nhu động được cung cấp qua đường ruột để duy trì tính toàn vẹn của ruột, giảm viêm và bảo vệ miễn dịch đường ruột.

Do thiếu định nghĩa đồng thuận về suy dinh dưỡng, số lượng và thời điểm của liệu pháp hỗ trợ dinh dưỡng có thể được hướng dẫn bằng cách xác định “nguy cơ dinh dưỡng”, nguy cơ này có thể dẫn đến kết cục kém do không đủ dinh dưỡng.

Điểm NUTRIC và NRS-2002 có thể được sử dụng để xác định nguy cơ dinh dưỡng ở bệnh nhân nặng người lớn.

Bệnh nhân người lớn mắc bệnh nguy kịch được xem là có nguy cơ dinh dưỡng cao có thể được hưởng lợi từ liệu pháp hỗ trợ dinh dưỡng sớm và tích cực.

Trong trường hợp không có chống chỉ định, dinh dưỡng đường ruột được ưu tiên hơn so với đường tĩnh mạch.

Làm thế nào để nhanh chóng nâng cao dinh dưỡng đường ruột sau khi bắt đầu liệu pháp dinh dưỡng là chưa được biết rõ. Sự đóng góp của dinh dưỡng đường ruột vào tăng đường huyết, dung nạp, và nguy cơ hội chứng sau nuôi dưỡng lại nên được xem xét khi điều chỉnh dinh dưỡng đường ruột hướng tới đạt mục tiêu.

Dữ liệu gần đây cho thấy dinh dưỡng tĩnh mạch là một sự thay thế an toàn và khả thi khi dinh dưỡng sớm đường ruột bị chống chỉ định hoặc không dung nạp.

Sống sót của chăm sóc tích cực đã được cải thiện trong 30 năm qua. Hậu quả là những người sống sót bị mất khối cơ dẫn đến giảm chức năng thể chất và chất lượng cuộc sống. Do đó, tối ưu hóa protein có thể có giá trị lớn hơn so với tổng lượng calo. Dữ liệu quan sát cho thấy protein ở liều ≥1.2 g/kg/ngày có liên quan đến cải thiện kết cục ICU.

Các bác sĩ nên biết về những rào cản liên quan đến từng bệnh nhân, nhà cung cấp dịch vụ, quy trình của nơi điều trị trong việc cung cấp và tối ưu hóa liệu pháp hỗ trợ dinh dưỡng.

NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP

Một bệnh nhân nam 75 tuổi có tiền sử đái tháo đường, tăng huyết áp và nghiện rượu được vợ đưa đến khoa cấp cứu vì 3 ngày qua bị khó thở, khạc đàm và sốt. Lần sử dụng rượu cuối cùng là 3 ngày trước.

Đánh giá toàn thân phát hiện giảm 9 kg cân nặng trong 2 tháng qua do ăn uống kém. Tiền sử phẫu thuật và gia đình không đáng kể. Tiền sử xã hội, uống tới mười chai bia mỗi ngày. Không có tiền sử dùng thuốc kích thích, không đi du lịch gần đây và không bị phơi nhiễm nghề nghiệp.

Dấu hiệu sinh tồn: nhiệt độ 39°C, huyết áp 90/40 mmHg, nhịp thở 28, nhịp tim 110/phút và đều, độ bão hòa oxy 82% với khí phòng. Chỉ số khối cơ thể (BMI) là 19.8 (cao 183 cm và nặng 68 kg).

Bệnh nhân tỏ vẻ lo lắng, vả mồ hôi. Không thấy tĩnh mạch cảnh nổi. Lõm cơ hai bên thái dương. Da ấm và đỏ ửng. Mạch đập không mạnh lắm. Có ran ngáy và tiếng thở thanh quản trên nách phải. Còn lại không có gì đặc biệt.

Các xét nghiệm huyết học có ý nghĩa gồm bạch cầu tăng lên tới 20,000/µL. Sinh hóa máu có kali 2.9 mmol/L (phạm vi bình thường 3.45.1 mmol/L), phosphate 1.5 mg/dL (2.5-4.5 mg/dL), magne 1.0 mg/dL

(1.6-2.6 mg/dL), bicarbonate 18 mmol/L (22-29 mmol/L). Nồng độ albumin huyết thanh là 2 g/dL (3.8-5.0 g/dL).

Khí máu động mạch (ABG): pH 7.32, PCO2 40 mmHg, PO2 80 mmHg và SaO2 90% với O2 10 lít.

X-quang ngực cho thấy mờ thùy giữa phổi phải.

Chẩn đoán và quản lý ban đầu của chúng tôi

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

Gửi bình luận

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Exit mobile version
Trang Chủ