Ths. Bs Hồ Hoàng Kim
Khoa ICU- Bệnh viện Nguyễn Tri Phương
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỂ KÍCH ĐỘNG VÀ ĐAU TẠI ICU.
Bệnh nhân ICU luôn phải thường xuyên đối mặt với các cảm giác không dễ chịu trong môi trường hồi sức: đau, lo âu, kích động, sảng, khó thở và các stress tâm thần khác. Các vấn đề đó có thể là yếu tố thúc đẩy cho bệnh lý hồi sức nặng lên ( tăng tiêu thụ oxi trong shock chẳng hạn) hay đó có thể là triệu chứng sớm của diễn tiến bệnh đang xấu đi.
Trong môi trường ICU, hầu hết các bệnh nhân thường xuyên trải qua các thủ thuật, phẫu thuật hay các hành động chăm sóc gây đau đớn cho bệnh nhân: đặt các catheter tĩnh mạch trung tâm, động mạch xâm lấn, các ống thông, lấy máu xét nghiệm, thử các xét nghiệm point of care….. Hơn nữa, việc đối mặt thường xuyên tình trạng rối loạn giấc ngủ do bị trạng thái stress bệnh lý, các thủ thuật chăm sóc thường qui, của việc thay đổi nhịp sinh học, âm thanh, ánh sánh…, kết hợp với việc mất khả năng giao tiếp làm cho bệnh nhân rất dễ rơi vào trạng thái khủng hoảng, từ đó gây ra sảng, kích động…
Các nghiên cứu và các báo cáo lâm sàng tại các trung tâm ICU cho thấy đau, lo âu, kích động và các stress tâm thần khác là một trong những vấn đề chính yếu của bệnh nhân hồi sức và họ cần được nhận các thuốc an thần, giảm đau, và đôi khi là dãn cơ. Một số thuật ngữ đưa ra để mô tả các trạng thái stress và rối loạn hành vi tâm thần của bệnh nhân hồi sức.
Các thuật ngữ miêu tả các bất thường về stress và hành vi tâm thần xuất hiện trên bệnh nhân hồi sức:
Agitation – Kích động: các hành động vận động quá mức liên quan đến các vấn đề nặng nề của nội khoa ( đau, sảng rượu, hội chứng cai thuốc, nhiễm trùng, suy hô hấp…). Các hoạt động này phần lớn là không có mục đích nhưng có thể có mục đích phi lý và đôi khi gây hại cho bản thân ( rút các ống thông, catheter duy trì sự sống…) hay cho nhân viên y tế.
Anxiety – Lo âu: là một trạng thái kéo dài sự lo sợ với sự đáp ứng có nhận thức với những đe dọa thật sự hay chỉ thông qua cảm nhận.
Apprehension – Lo sợ: một trạng thái trước một sự cảm nhận đe dọa hiện diện hay báo trước.
Autonomic arousal – thần kinh tự động thức tỉnh: sự kích thích của hện thần kinh giao cảm và phó giao cảm cũng như sự kiểm soát tự động của trục thể dịch. Thần kinh tự động thức tỉnh gây ra nhịp tim nhanh, tăng huyết áp tâm thu, tăng thông khí, và vã mồ hôi.
Cognitive dysfunction – suy giảm nhận thức: giảm trí nhớ và khả năng phân tích, rối loạn và suy giảm khả năng điều chỉnh hành vi.
Coma – hôn mê: trạng thái không đáp ứng với thức tỉnh.
Defensive withdrawal – phản ứng phòng vệ do ngưng thuốc: là một phản ứng thực thể và tâm thần với tình huống không dễ chịu với đặc điểm trốn tránh, giảm đáp ứng, hay xu hướng tăng bạo lực.
Delirium – sảng: là một trạng thái tâm thần cấp với đặc điểm suy giảm nhận thức, rối loạn suy nghĩ, kích động hay không đáp ứng có tính chất dao động.
Distress : là một thuật ngữ bao hàm do đau đớn, căng thẳng lên cơ thể hay tâm thần.
Dyspnea – khó thở: cảm giác khó khăn hay suy giảm hơi thở.
Obtundation – lừ đừ, lơ mơ: lơ mơ bệnh lý, thường liên quan trạng thái thức nhưng giảm chú ý và hấp dẫn với môi trường xung quanh.
Pain – đau: là một cảm giác hay cảm xúc không dễ chịu trước các tổn thương mô thực thể với các hành vi trốn tránh.
Patient – ventilatior asynchrony – chống máy: là sự bất tương hợp nhịp thở của máy và bệnh nhân về mặt cơ học và chức năng hô hấp.
Stress response – đáp ứng với stress: là phản ứng của cơ thể và tâm thần trước các đe dọa với sự tăng đáp ứng sinh lý.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ