PGS.TS. Trần Thị Mộng Hiệp
ĐẠI CƯƠNG
Định nghĩa
Bệnh Thận Mạn (BTM) là một bệnh không hiếm ở trẻ em và là hậu quả của sự giảm độ lọc cầu thận.
Triệu chứng lâm sàng, xét nghiệm sinh học và biến chứng của bệnh thận mạn ở trẻ em tương tự như ở người lớn. Điều khác biệt là bệnh thận mạn ở trẻ em xảy ra trên một cơ thể đang tăng trưởng.
Vào năm 2012, theo KDIGO (Kidney Disease Improving Global Outcomes), BTM được xác định khi có những bằng chứng bất thường về cấu trúc và chức năng thận hoặc độ lọc cầu thận (GFR: Glomerular Filtration Rate) < 60ml/phút/1,73 m2 (tương ứng với giai đoạn 3), kéo dài trên 3 tháng.
Thật là khó để định ra là khi nào thật sự là suy chức năng của thận vì một phần nhu mô thận bị tổn thương sẽ được bù lại bằng sự tăng hoạt động của các cầu thận còn lại.
Ngoài ra, các dấu hiệu lâm sàng có thể thiếu, hoặc không có, hoặc chỉ có dấu hiệu lâm sàng ở giai đoạn bệnh đã tiến triển xa.
Theo hướng dẫn thực hành lâm sàng của KDIGO, BTM được phân loại như sau:
Bảng 1: Phân độ bệnh thận mạn (KDIGO 2012 clinical practice guideline)
| Phân độ | Độ lọc cầu thận (ml/phút/1,73 m2) | Mô tả |
| 1 | > 90 | Bình thường hoặc tăng |
| 2 | 60 – 89 | Giảm nhẹ |
| 3a | 45 – 59 | Giảm nhẹ đến vừa |
| 3b | 30 – 44 | Giảm vừa đến nặng |
| 4 | 15 – 29 | Giảm nặng |
| 5 | < 15 | Suy thận giai đoạn cuối |
Cách tính độ lọc cầu thận (đơn vị: ml/phút/1,73m2):
Công thức Schwartz:
K x chiều cao (cm)
Ccr = —————————–
Creatinine/máu (mg/%)
K= 0,33 ở trẻ thiếu tháng
K= 0,45 ở trẻ < 2 tuổi
K= 0,55 ở trẻ 2-12 tuổi
K=0,55 ở nữ (sau dậy thì)
K=0,7 ở thanh niên
Tần suất
Tần suất bệnh mới mắc thay đổi tùy các nước
Âu Châu: 9-10/ triệu trẻ em (2000)
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ