ThS. BS. Nguyễn Đức Toàn
GIỚI THIỆU
Giai đoạn chu sinh mặc dù có nhiều ý kiến khác nhau về mốc thời gian nhưng định nghĩa được chấp nhận rộng rãi nhất hiện nay là bắt đầu từ tuần thứ 28 của thai kỳ cho đến ngày thứ 28 sau khi sinh [25].
Giai đoạn sơ sinh được định nghĩa là giai đoạn bắt đầu từ lúc sinh đến ngày thứ 28 sau khi sinh. Đây là giai đoạn chuyển tiếp cực kỳ quan trọng giữa môi trường bên trong và bên ngoài tử cung [7,18].
Nhiễm trùng sơ sinh là bệnh lý nhiễm trùng xảy ra trong giai đoạn sơ sinh với tác nhân gây bệnh mắc phải trước, trong và sau khi sinh. Đôi khi khái niệm này được mở rộng và bao gồm cả một số bệnh cảnh nhiễm trùng khởi phát chậm xảy ra ngay sau giai đoạn sơ sinh. Nhiễm trùng sơ sinh là một trong bốn nguyên nhân hàng đầu gây tử vong (42%) ở trẻ sơ sinh bên cạnh sanh ngạt (31,7%), dị tật bẩm sinh (16%) và sanh non (10,3%) [26].
MỘT SỐ ĐỊNH NGHĨA
Nhiễm khuẩn huyết sơ sinh (neonatal sepsis) là một hội chứng lâm sàng ở trẻ ≤ 28 ngày tuổi; bao gồm các triệu chứng nhiễm khuẩn hệ thống và/hoặc nhiễm khuẩn khu trú; do tác nhân gây bệnh là vi khuẩn hiện diện trong máu [7,18].
Nhiễm khuẩn huyết sơ sinh khởi phát sớm (early onset sepsis) được định nghĩa là khi các triệu chứng nhiễm khuẩn khởi phát trong vòng những ngày đầu sau khi sinh. Có nhiều ý kiến khác nhau về độ tuổi khởi phát. Một số chuyên gia định nghĩa nhiễm khuẩn huyết sơ sinh khởi phát sớm là nhiễm khuẩn huyết khởi phát ở thời điểm ≤ 72 giờ tuổi.
Trong khi đó, nhiều ý kiến khác định nghĩa nhiễm khuẩn huyết sơ sinh khởi phát sớm là nhiễm khuẩn có các triệu chứng khởi phát < 7 ngày tuổi [7,18].
Nhiễm khuẩn huyết sơ sinh khởi phát muộn (late onset sepsis) một số chuyên gia định nghĩa nhiễm khuẩn huyết sơ sinh khởi phát muộn là nhiễm khuẩn huyết khởi phát ở thời điểm > 72 giờ tuổi. Trong khi đó, nhiều ý kiến khác định nghĩa nhiễm khuẩn huyết sơ sinh khởi phát muộn là nhiễm khuẩn có các triệu chứng khởi phát ≥ 7 ngày tuổi và kéo dài đến 3 tháng tuổi [7,18].
Nhiễm khuẩn huyết sơ sinh khởi phát rất muộn (late, late onset sepsis) đã được báo cáo, là nhiễm khuẩn có các triệu chứng khởi phát > 3 tháng tuổi, hay gặp ở trẻ sinh non và rất khó phát hiện cũng như theo dõi [7].
Nhiễm trùng bệnh viện sơ sinh (neonatal nosocomial infections) Theo Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa bệnh tật (CDC), nhiễm trùng bệnh viện sơ sinh được định nghĩa là bất cứ tình trạng nhiễm trùng nào không hiện diện hoặc ủ bệnh ở thời điểm trẻ sơ sinh nhập viện, mà mắc phải trong quá trình nằm viện hoặc đến 48 giờ sau khi xuất viện; và ngoại trừ những trường hợp nhiễm trùng bào thai do TORCH (toxoplasmosis; những tác nhân khác như giang mai, HIV, HBV; rubella; cytomegalovirus, herpes simplex virus) [8].
ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ
Tần suất nhiễm khuẩn huyết sơ sinh thay đổi từ 1 đến 5 trường hợp trên 1000 ca sinh sống. Tần suất thấp hơn ở sơ sinh đủ tháng, với các tỷ lệ báo cáo từ 1 đến 2 trường hợp trên 1000 ca sinh sống [3,4].
Về mặt giới tính: ở trẻ đủ tháng, tỷ lệ mắc bệnh ở nam gấp đôi nữ. Trong khi đó ở trẻ non tháng, ít có sự khác biệt về giới tính [3,4].
Trẻ sinh non, nhẹ cân có tỷ lệ mới mắc cao gấp 3 đến 10 lần so với trẻ đủ tháng và cân nặng bình thường. Nguy cơ nhiễm khuẩn huyết tăng lên ở sơ sinh non tháng đã được chứng minh trong một nghiên cứu đoàn hệ về nhiễm Group B Streptococcus ở trẻ sơ sinh tại Mỹ với tần suất nhiễm khuẩn huyết ở sơ sinh có cân nặng lúc sinh <1500 g cao hơn bảy lần so với sơ sinh có cân nặng lúc sinh ≥ 2500 g [21].
Trong một nghiên cứu tại Mỹ sử dụng số liệu của Viện Sức khỏe Trẻ em và Phát triển Con người Quốc gia (National Institute of Child Health and Human Development (NICHHD), từ năm 2006 đến năm 2009, tỷ lệ nhiễm khuẩn huyết sơ sinh khởi phát sớm là 0,98 trường hợp trên 1000 trẻ sinh sống [22].
SINH BỆNH HỌC [7]
Nhiễm khuẩn huyết khởi phát sớm thường do lây truyền theo chiều dọc như nhiễm trùng ối hoặc trong quá trình sinh qua ngã âm đạo do các vi khuẩn ở đường sinh dục của mẹ.
Nhiễm khuẩn huyết khởi phát muộn thường lây truyền theo hai cơ chế
Lây truyền theo chiều dọc, từ mẹ sang con và những vi khuẩn ở đường sinh dục mẹ gây ra tình trạng nhiễm khuẩn huyết khởi phát sau đó ở trẻ sơ sinh.
Lây truyền theo chiều ngang, do tiếp xúc trực tiếp với người chăm sóc hoặc môi trường chung quanh. Thường do da và niêm mạc bị tổn thương hoặc do các can thiệp xâm lấn (ví dụ, catheter nội mạch).
Đặc điểm sinh lý bệnh
Khi có sự hiện diện của vi khuẩn trong máu, những cytokines tiền viêm sẽ được sản xuất và phóng thích. Sau đó, dưới tác động kích hoạt của neutrophils và các tế bào nội mô, những cytokines tiền viêm này sẽ tạo điều kiện cho các tế bào bạch cầu bám dính vào vách tế bào, thúc đẩy quá trình sản xuất nitric oxide, nitrogen và các chất gây viêm. Kế đến, những sản phẩm này sẽ gây tổn thương tế bào ở nhiều mức độ biểu hiện khác nhau như phù nề, xuất tiết, thay đổi trương lực mạch máu. Sau giai đoạn tiền viêm, những hóa chất trung gian cũng như những sản phẩm của tổn thương tế bào sẽ tiếp tục lưu hành trong máu, tác động lên các hàng rào bảo vệ và cơ chế đáp ứng miễn dịch. Từ đó gây ra đáp ứng viêm ở mức độ mô và cơ quan.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ