Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh
NHI - SƠ SINH BẢN ĐỌC THỬ

Bài giảng nhi khoa: Viêm tiểu phế quản

13 phút đọc

ThS.BS. Trần Thiện Ngọc Thảo

ĐẠI CƯƠNG

Viêm tiểu phế quản (VTPQ) là tình trạng viêm nhiễm cấp tính của các tiểu phế quản, chủ yếu do siêu vi.

VTPQ được định nghĩa trên lâm sàng là tình trạng khò khè sau nhiễm trùng hô hấp trên. Đặc trưng của bệnh khởi đầu với các dấu hiệu của viêm hô hấp trên, sốt nhẹ, sau đó diễn tiến đến ho, khò khè, khó thở, nghe phổi có ran tắc nghẽn.2

DỊCH TẾ

VTPQ là bệnh lý nhiễm trùng hô hấp dưới thường gặp nhất ở trẻ dưới 2 tuổi.2,4 90% trẻ nhập viện vì VTPQ là dưới 12 tháng tuổi. Tuy nhiên, bệnh thường tập trung tại đỉnh tuổi từ 3 – 6 tháng.3

Tác nhân thường gặp nhất là siêu vi hợp bào hô hấp (RSV) (50 – 80%).2 Ngoài ra, còn một số tác nhân khác như Adenovirus, rhinovirus, human metapneumovirus, influenza virus, parainfluenza virus. – Nhiễm RSV thường tăng cao vào mùa lạnh hoặc mùa mưa.

Phần lớn đối với các trẻ khỏe mạnh, VTPQ tự ổn định và hồi phục tốt với điều trị hổ trợ tại nhà. Tuy nhiên, một số yếu tố nguy cơ làm bệnh diễn tiến nặng cần nhập viện như5

Tuổi dưới 3 tháng

Tiền sử non tháng, đặc biệt trẻ dưới 32 tuần, nhẹ cân, suy hô hấp sơ sinh cần phải giúp thở.

Các bệnh phổi mạn tính trên trẻ sanh non: loạn sản phế quản phổi,…

Tim bẩm sinh chưa sửa chữa, đặc biệt có tăng áp phổi.

Bất thường đường thở, phổi như: chẻ vòm, mềm sụn thanh quản, mềm sụn khí quản, thiểu sản phổi.

Trẻ có bất thường về thần kinh kèm giảm trương lực cơ: SMA (Spinal Muscular Atrophia), Down,…

Suy dinh dưỡng nặng o Suy giảm miễn dịch bẩm sinh hoặc mắc phải.

CƠ CHẾ BỆNH SINH 2,5

Virus xâm nhập vào tế bào đường thở, nhân lên làm phá hủy lớp lông chuyển và làm hoại tử tế bào biểu mô đường thở. Tế bào bị phá hủy kích hoạt phản ứng viêm với sự thâm nhập của các tế bào neutrophil và lympho. Các đáp ứng này làm đường thở bị tăng tiết quá mức và phù nề lớp niêm mạc, tuy nhiên, lớp collagen, lớp đệm đàn hồi và cơ không bị phá hủy. Dịch tiết lẫn với xác các tế bào chết tạo thành những nút nhầy làm bít tắc các tiểu phế quản, dẫn đến ứ khí và xẹp phổi từng vùng. Hậu quả của cơ chế này là tình trạng bất xứng thông khí – tưới máu, cuối cùng đưa đến thiếu oxy máu. Ở trẻ nhỏ, tình trạng bất xứng thông khí tưới máu nặng và giảm thông khi có thể dẫn đến ứ CO2.

Ngoài ra, RSV còn trực tiếp gây ra viêm phổi nặng do phá hủy tế bào biểu mô đường thở và hoại tử phế nang.

LÂM SÀNG

Bệnh cảnh lâm sàng thường gặp của VTPQ khởi đầu 1-2 ngày với triệu chứng viêm hô hấp trên, nghẹt mũi, chảy mũi trong. Những ngày sau, bệnh biểu hiện các dấu hiệu tắc nghẽn đường thở dưới như ho, thở nhanh, khò khè, thở gắng sức, nghe phổi có thể có ran ẩm, ngáy…Đối với các bé nhỏ dưới 3 tháng tuổi, nghẹt mũi nhiều có thể làm bé thở mệt hơn. Tình trạng khó thở có thể làm trẻ biếng bú.

Ho

Ho trong VTPQ thường là ho khan, sau đó là ho, khò khè. Đôi lúc, trẻ có biểu hiện cơn ho như ho gà. Phần lớn các trường hợp VTPQ đều có triệu chứng ho.2

Khò khè

Khò khè cũng là dấu hiệu rất thường gặp của VTPQ. Khò khè trong VTPQ là do các đường thở bên dưới bị bít tắc bởi đàm, dịch tiết, xác tế bào viêm …Các nút đàm là hẹp lòng đường thở bên dưới, cản thở luồng khí lưu thông, gây ra tiếng khò khè.

Sốt

VTPQ có thể có sốt hoặc không. Phần lớn các trẻ có sốt nhẹ đến vừa. Những trường hợp sốt cao trên 39oC, có vẻ mặt ‘nhiễm độc’ nên được thăm khám cẩn thận để tìm nguyên nhân khác trước khi chẩn đoán VTPQ.3

Suy hô hấp

Biểu hiện lâm sàng của VTPQ rất thay đổi, tùy vào mức độ tắc nghẽn đường hô hấp bên dưới. Suy hô hấp có thể nhẹ thoáng qua cho đến nặng, phải hổ trợ hô hấp. Thông thường, biểu hiện tắc nghẽn của bệnh thường nặng lên vào khoảng ngày 3 – 4 của bệnh và nếu trẻ không có nguy cơ, không có biến chứng, bệnh thường thoái lui sau 1 tuần.3,4

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

Gửi bình luận

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Exit mobile version
Trang Chủ