PGS.TS. Hà Hoàng Kiệm
Hội chứng thận hư đơn thuần nguyên phát nhạy cảm với Corticoides thường không có tăng huyết áp, suy thận và tiểu máu
1. ĐẠI CƯƠNG
1.1. Định nghĩa
Thận hư là một hội chứng lâm sàng và sinh hóa xảy ra ở nhiều bệnh cầu thận, được đặc trưng bởi protein niệu nhiều (³3,5g/24giờ), protein máu giảm (<60g/l), albumin máu giảm (<30g/l), lipid máu tăng và có phù.
1.2. Nguyên nhân và phân loại hội chứng thận hư
Bảng phân loại hội chứng thận hư bao gồm hội chứng thận hư nguyên phát (hay hội chứng thận hư tiên phát) và hội chứng thận hư thứ phát (hay hội chứng thận hư kết hợp).
1.2.1. Hội chứng thận hư nguyên phát
– Hội chứng thận hư đơn thuần, còn gọi là bệnh cầu thận tổn thương tối thiểu, chiếm tỉ lệ 20% số bệnh nhân có hội chứng thận hư.
– Viêm cầu thận màng (chiếm 25 – 30%). Tự kháng nguyên của viêm cầu thận màng là phospholipase A2 Receptor týp M (PLA2R), là một protein xuyên màng có trên màng tế bào podocyte (Beck LH và cộng sự 2009).
– Viêm cầu thận màng tăng sinh (chiếm 5 – 10%).
– Xơ hóa cầu thận ổ – đoạn (chiếm 5 – 20%).
– Các viêm cầu thận tăng sinh và xơ hóa khác (chiếm 15-30%).
1.2.2. Hội chứng thận hư thứ phát
– Bệnh hệ thống:
+ Bệnh thận do lupus ban đỏ hệ thống.
+ Bệnh thận do các bệnh mạch máu hệ thống: cryoglobulin máu hỗn hợp, bệnh u hạt Wegener, bệnh viêm đa vi động mạch, bệnh viêm thành mạch dị ứng.
– Bệnh rối loạn chuyển hóa:
+ Bệnh thận do bệnh đái tháo đường.
+ Bệnh thận do lắng đọng chất dạng tinh bột (amyloidosis).
– Các bệnh thận sau nhiễm khuẩn:
+ Nhiễm vi khuẩn: liên cầu khuẩn, giang mai, viêm màng trong tim nhiễm khuẩn bán cấp, áp xe nội tạng.
+ Nhiễm virus: virus viêm gan B, virus viêm gan C, HIV, cytomegalo virus.
+ Nhiễm ký sinh trùng: sốt rét, toxoplasma, sán máng…
– Bệnh thận do thuốc:
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ