Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Chẩn đoán phân biệt các triệu chứng thường gặp, ấn bản thứ 7. Chương 9: Ho

29 phút đọc

CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT CÁC TRIỆU CHỨNG THƯỜNG GẶP, ẤN BẢN THỨ 7
(
Differential Diagnosis of Common Complaints, Seventh Edition)

Tác giả: Seller, Robert H., MD – Nhà xuất bản: Elsevier
Biên dịch: Ths.Bs. Lê Đình Sáng


Chương 9: Ho

Cough
Robert H. Seller, MD; Andrew B. Symons, MD, MS
Differential Diagnosis of Common Complaints, 9, 102-113


 

Khi đánh giá bệnh nhân bị ho, bác sĩ nên nhớ rằng:

  1. Hầu hết những người khỏe mạnh hiếm khi ho.
  2. Chức năng chính của ho là làm sạch đường thở.

Triệu chứng ho nên được xem xét nghiêm túc, vì đây là một trong số ít cách mà các bất thường của cây hô hấp tự biểu hiện. Ho có thể được chia thành ba loại:

  • Cấp tính, kéo dài dưới 3 tuần
  • Bán cấp, kéo dài 3–8 tuần
  • Mạn tính, kéo dài hơn 8 tuần (ở trẻ em là 4 tuần hoặc hơn)

Ho có thể được khởi phát do kích thích đường thở trên hoặc dưới. Các nguyên nhân phổ biến nhất của ho cấp tính là nhiễm trùng đường hô hấp trên và dưới (thường là nhiễm virus đường hô hấp trên), hen suyễn, viêm phế quản, viêm thanh quản, và dị ứng (thường theo mùa), viêm phổi, đợt cấp của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD), và suy tim.

Các nguyên nhân phổ biến của ho bán cấp bao gồm tình trạng sau nhiễm trùnghen suyễn thể ho.

Các nguyên nhân phổ biến nhất của ho mạn tính ở người lớn là hội chứng ho đường hô hấp trên (UACS) (trước đây gọi là chảy dịch mũi sau), hen suyễn, trào ngược dạ dày thực quản, và các loại thuốc như thuốc ức chế men chuyển angiotensin (ACE – angiotensin-converting enzyme). Trong nhiều trường hợp, ho mạn tính có nhiều nguyên nhân. Các nguyên nhân phổ biến khác là viêm phế quản mạn tính do hút thuốc lá, COPD, suy tim, lao, u phổi, và thói quen (Bảng 9.1).

Bảng 9.1 Các nguyên nhân gây ho mạn tính hoặc dai dẳng

Yếu tố kích thích Các vấn đề đường hô hấp Khác
Hút thuốc lá Hen suyễn Liệu pháp ức chế men chuyển angiotensin
Không khí khô Giãn phế quản Nổi hạch
Bụi Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính Phình động mạch chủ
Chất ô nhiễm Viêm mũi mạn tính Bệnh ác tính
Viêm xoang mạn tính Viêm thực quản trào ngược
Bệnh ống tai ngoài
Các yếu tố môi trường và nghề nghiệp
Dị vật
Suy tim
Bệnh phổi kẽ
Viêm phế quản do vi khuẩn dai dẳng (đặc biệt là trẻ em)
Viêm phổi
Hội chứng tòa nhà bệnh
Rối loạn chức năng hoặc polyp dây thanh

Các nguyên nhân phổ biến nhất của ho tái phát ở trẻ em là nhiễm virus đường hô hấp trên tái phát, bệnh đường thở phản ứng, hen suyễn, viêm phế quản do virus, và dị ứng. Ở trẻ em, ho mạn tính được định nghĩa là kéo dài 4 tuần hoặc hơn.

Cơ địa Bệnh nhân

Nhiễm virus là nguyên nhân phổ biến nhất của ho cấp tính ở mọi lứa tuổi. Điều này đặc biệt đúng với trẻ em tuổi mẫu giáo và thậm chí có khả năng cao hơn nếu chúng tiếp xúc gần gũi hàng ngày với nhiều trẻ em khác. Ở trẻ em tuổi đi học, viêm phổi do mycoplasma khá phổ biến. Do thời gian ủ bệnh dài (khoảng 21 ngày), nhiễm trùng lây lan chậm. Viêm phổi do vi khuẩn cũng gây ho và có tỷ lệ mắc cao nhất vào những tháng mùa đông. Viêm phế quản do virus tái phát là phổ biến nhất ở trẻ mẫu giáo và trẻ nhỏ tuổi đi học và là nguyên nhân phổ biến nhất của ho dai dẳng ở trẻ em mọi lứa tuổi. Có thể có một sự nhạy cảm di truyền của vật chủ đối với viêm phế quản tái phát thường xuyên. Trong năm đầu đời, phải xem xét viêm phế quản do vi khuẩn dai dẳng, và nếu được xác nhận bằng rửa phế quản, thì phải được điều trị. Những bệnh nhân trẻ bị ho tái phát thường bị hen suyễn. Bác sĩ nên nghi ngờ hen suyễn tiềm ẩn góp phần gây ra ho tái phát khi có tiền sử gia đình về dị ứng, cơ địa dị ứng, hoặc hen suyễn.

Ho mạn tính ở trẻ em (Bảng 9.2) thường do viêm mũi dị ứng, viêm xoang mạn tính, hoặc VA phì đại. Ho mạn tính ở trẻ em trong những tháng mùa đông thường do viêm phế quản do không khí khô. Mặc dù hiếm gặp, ho mạn tính ở trẻ rất nhỏ (dưới 12 tháng tuổi) nên gợi ý các dị tật bẩm sinh hoặc nhiễm trùng sơ sinh, bao gồm viêm phổi do virus và chlamydia. Các nguyên nhân tương đối không phổ biến khác của ho mạn tính ở trẻ nhỏ bao gồm sặc sữa, nước bọt, hoặc dịch dạ dày tái phát và xơ nang. Ho mạn tính ở trẻ em từ 1 đến 5 tuổi nên gợi ý giãn phế quản hoặc xơ nang sau khi các nguyên nhân phổ biến hơn đã được loại trừ. Ở cả trẻ em và người lớn, ho mạn tính có thể là biểu hiện duy nhất của trào ngược dạ dày thực quản.

Bảng 9.2 Các nguyên nhân gây ho mạn tính ở trẻ em theo độ tuổi

Tuổi sơ sinh (dưới 1 tuổi) Tuổi mẫu giáo (1–5 tuổi) Tuổi đi học
Dị tật bẩm sinh Dị vật đường thở Hút thuốc lá
Nhiễm trùng bẩm sinh và sơ sinh: Bệnh phổi mưng mủ: Nhiễm trùng Mycoplasma pneumoniae
Viêm phổi do virus Xẹp phổi mạn tính Ho do thần kinh hoặc tâm lý
Rubella Giãn phế quản Xơ nang
Cytomegalovirus Xơ nang
Sặc Viêm phế quản liên quan đến bệnh đường hô hấp trên mạn tính
Sữa Hen suyễn
Dịch dạ dày
Nước bọt
Xơ nang
Hen suyễn
Phổ biến ở mọi lứa tuổi Viêm phế quản do virus tái phát Hen suyễn

Ho mạn tính ở người lớn thường do viêm phế quản mạn tính (đặc biệt ở người hút thuốc), bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD), UACS (chảy dịch mũi sau), hen suyễn, các chất kích thích môi trường, dị ứng, và thói quen. Ho mạn tính là kết quả của GERD, chảy dịch mũi sau, hoặc hen suyễn ở 99% người không hút thuốc có X-quang ngực bình thường trong một nghiên cứu. Ở người lớn tuổi, bất kỳ cơn ho mạn tính nào không có giải thích rõ ràng nên gợi ý khối u hoặc bệnh lao.

Bệnh nhân bị tăng huyết áp, suy tim, hoặc các tình trạng khác mà thuốc ức chế men chuyển có thể được kê đơn nên được hỏi về việc sử dụng các thuốc này vì chúng có thể gây ho ở một tỷ lệ đáng kể bệnh nhân, và việc giảm liều hoặc chuyển sang một loại thuốc ức chế men chuyển khác không làm giảm ho.

Tính chất Triệu chứng

Khi ho khởi phát đột ngột và đi kèm với sốt hoặc các triệu chứng của nhiễm trùng cấp tính, nguyên nhân do virus là rất có thể. Cơn ho ồn ào, tạo ra ít đờm, và thường nặng hơn vào ban đêm. Với nhiễm trùng do vi khuẩnmycoplasma, ho thường là triệu chứng nổi bật nhất. Sự khởi phát của nó có thể xảy ra trong vài giờ hoặc vài ngày, và đờm tạo ra thường đặc và có màu vàng. Trong nhiễm trùng mycoplasma, ho có thể nặng và kéo dài trong 1–4 tháng, mặc dù tất cả các dấu hiệu và triệu chứng khác giảm trong vòng 7–10 ngày.

Cơn ho do nhiễm virus đường hô hấp trên hoặc viêm phế quản do virus thường kéo dài 7–10 ngày. Nếu ho kéo dài hơn 14 ngày, có thể tồn tại một bệnh nhiễm khuẩn thứ phát. Nếu ho đi kèm với khó thở và thở khò khè hai bên, hen suyễn là có khả năng. Ở người lớn, ho không đặc hiệu là một triệu chứng khởi phát phổ biến của hen suyễn, nhưng điều này không đúng với trẻ em. Điều này cũng đúng khi GERD bị nghi ngờ là nguyên nhân gây ho. Cơn ho của hen suyễn thường không có đờm hoặc có ít dịch nhầy trong. Cơn ho do hen suyễn thường nặng hơn vào cuối buổi chiều và ban đêm, đi kèm với thở khò khè, được gây ra bởi các chất kích thích cụ thể, và phổ biến hơn ở những bệnh nhân có tiền sử gia đình bị hen suyễn, dị ứng, hoặc cơ địa dị ứng.

Bệnh nhân bị ho cấp tính hoặc mạn tính thứ phát sau UACS có thể không nhận thức được tình trạng này. Họ nên được hỏi về việc nuốt chất nhầy, hắng giọng thường xuyên, khạc nhổ, hoặc ho nặng hơn vào buổi sáng. Thăm khám có thể cho thấy dịch nhầy ở thành sau họng, hình ảnh niêm mạc lát đá cuội, hoặc các dấu hiệu của viêm xoang. Mặc dù chảy dịch mũi sau thường do viêm xoang gây ra, nhưng nó có thể do viêm mũi vận mạch hoặc dị ứng hoặc viêm mũi không dị ứng với hội chứng tăng bạch cầu ái toan. Điều quan trọng là phải phân biệt các nguyên nhân biến thể này của viêm mũi để điều trị hiệu quả (Bảng 9.3).

Bảng 9.3 Phân biệt Viêm mũi vận mạch, Viêm mũi không dị ứng với Hội chứng tăng bạch cầu ái toan, và Viêm mũi dị ứng

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Exit mobile version
Trang Chủ