Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh
Nội tiêu hóa BẢN ĐỌC THỬ

Chẩn đoán và điều trị loét dạ dày tá tràng

16 phút đọc

Tác giả: Nimish Vakil, MD, University of Wisconsin School of Medicine and Public Health

  • Căn nguyên
  • Triệu chứng và Dấu hiệu
  • Chẩn đoán
  • Biến chứng
  • Điều trị
  • Những điểm chính
  • Thông tin thêm

 

Loét dạ dày là một chỗ mòn đoạn niêm mạc đường tiêu hóa, điển hình là ở dạ dày (loét dạ dày) hoặc vài cm đầu tiên của tá tràng (loét tá tràng), xâm nhập qua lớp cơ niêm. Hầu như tất cả các vết loét đều do nhiễm Helicobacter pylori hoặc dùng thuốc chống viêm không steroid (NSAID) gây ra. Triệu chứng thường là đau rát vùng thượng vị, thường thuyên giảm sau ăn. Chẩn đoán bằng nội soi và xét nghiệm tìm Helicobacter pylori. Điều trị bao gồm thuốc ức chế axit, diệt H. pylori (nếu có) và tránh dùng NSAID.

 

Vết loét có thể có kích thước từ vài mi-li-mét đến vài cm. Vết loét được phân biệt với các vết trợt theo độ sâu phần xuyên thấu; vết trợt có ở nông hơn và không liên quan đến lớp cơ niêm. Loét có thể xảy ra ở bất cứ độ tuổi nào, bao gồm cả sơ sinh và trẻ nhỏ, nhưng phổ biến nhất ở người lớn độ tuổi trung niên.

Căn nguyên của bệnh loét dạ dày tá tràng

 

H. pylori và thuốc chống viêm không steroid làm phá vỡ hàng rào bảo vệ và quá trình phục hồi niêm mạc bình thường, khiến niêm mạc dễ bị nhạy cảm với axit hơn. H. Nhiễm pylori có ở 50 đến 70% số bệnh nhân bị loét tá tràng và ở 30 đến 50% số bệnh nhân bị loét dạ dày. Nếu H. pylori bị diệt trừ, chỉ có 10% số bệnh nhân bị bệnh loét dạ dày tái phát, so với 70% số trường hợp bệnh nhân tái phát khi được điều trị bằng thuốc ức chế axit đơn độc. Thuốc NSAID hiện đang chiếm > 50 số trường hợp loét dạ dày.

 

Hút thuốc lá là một yếu tố nguy cơ phát sinh loét và các biến chứng của loét. Ngoài ra, hút thuốc làm giảm khả năng lành vết loét và tăng tỷ lệ tái phát. Nguy cơ tương quan với số điếu thuốc đã hút mỗi ngày. Mặc dù rượu là một chất kích thích mạnh quá trình bài tiết axit, nhưng không có dữ liệu chính xác liên kết giữa lượng rượu và quá trình phát triển vết loét hoặc trì hoãn quá trình lành vết loét. Rất ít bệnh nhân có tăng tiết gastrin do u gastrin (Hội chứng Zollinger-Ellison).

 

Tiền sử gia đình có trong 50 đến 60% số trẻ bị loét tá tràng.

Các triệu chứng và dấu hiệu của bệnh loét dạ dày tá tràng

 

Triệu chứng của bệnh loét dạ dày phụ thuộc vào vị trí loét và tuổi của bệnh nhân; nhiều bệnh nhân, đặc biệt là bệnh nhân cao tuổi, có ít hoặc không có triệu chứng. Đau là triệu chứng phổ biến nhất, thường ở thượng vị và giảm sau khi ăn hoặc sau khi dùng thuốc trung hòa axit. Đau được mô tả là nóng rát, cồn cào hoặc đôi khi cảm giác đói. Thường là mạn tính và tái phát. Chỉ có khoảng một nửa số bệnh nhân biểu hiện triệu chứng.

 

Các triệu chứng loét dạ dày thường không có đặc điểm cố định (ví dụ: đôi khi ăn uống làm đau trầm trọng hơn là làm giảm đau). Điều này đặc biệt đúng đối với loét hang môn vị, thường có liên quan đến các triệu chứng tắc nghẽn (ví dụ: chướng, buồn nôn, nôn) do phù nề và sẹo gây ra.

 

Loét tá tràng có xu hướng gây đau dai dẳng hơn. Không có đau khi bệnh nhân thức dậy nhưng xuất hiện đau vào giữa buổi sáng và giảm bớt nhờ thức ăn nhưng tái lại sau ăn từ 2 đến 3 giờ. Đau thường khiến bệnh nhân thức giấc vào ban đêm và điều này rất gợi ý hướng đến loét tá tràng. Ở trẻ sơ sinh, thủng và xuất huyết có thể là biểu hiện đầu tiên của loét tá tràng. Xuất huyết cũng có thể là dấu hiệu đầu tiên được nhận thấy ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, mặc dù nôn hoặc có bằng chứng đau bụng nhiều lần có thể là những dấu hiệu gợi ý.

Loét tá tràng
Hình 1. Loét tá tràng. Một vết loét tá tràng lớn được nhìn thấy ở vị trí 6 giờ.

Chẩn đoán bệnh loét dạ dày tá tràng

  • Nội soi

  • Có thể dựa vào nồng độ gastrin huyết thanh

 

Chẩn đoán loét dạ dày được nghĩ đến dựa vào bệnh sử của bệnh nhân và được xác định bằng nội soi. Điều trị theo kinh nghiệm thường bắt đầu mà không có chẩn đoán chính xác. Tuy nhiên, nội soi cho phép sinh thiết hoặc thu mẫu tế bào học của các thương tổn ở dạ dày và thực quản nhằm phân biệt giữa bệnh loét đơn thuần và ung thư dạ dày thể loét. Ung thư dạ dày có thể biểu hiện với các triệu chứng tương tự và phải được loại trừ, đặc biệt là ở những bệnh nhân > 45 tuổi, có sút cân, hoặc có các triệu chứng nặng hoặc khó chữa. Tỉ lệ bị loét tá tràng ác tính rất thấp, do đó sinh thiết các thương tổn ở tá tràng thường không cần thiết. Nội soi cũng có thể được sử dụng để chẩn đoán chính xác nhiễm H. pylori, điều này cần làm khi phát hiện thấy vết loét.

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

Gửi bình luận

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Exit mobile version
Trang Chủ