PGS.TS. Hà Hoàng Kiệm, BV103, HVQY
1. Khái niệm
1.1. Giải phẫu thực quản
Thực quản là một ống nối giữa miêngj và dạ dày. Về phương diện giải phẫu học, thực quản dài khoảng 25cm và được chia làm 3 đoạn: đoạn cổ dài khoảng 3cm; đoạn ngực dài khoảng 20cm và đoạn bụng dài khoảng 2cm.
Thực quản tương đối di động, dính với các tạng xung quanh bằng các cấu trúc lỏng lẻo. Ở cổ, thực quản nằm sau khí quản, đi xuống trung thất sau, nằm phía sau tim, trước động mạch chủ ngực; xuyên qua cơ hoành vào ổ bụng, nối với dạ dày.
Lòng thực quản có ba chỗ hẹp:
– Chỗ nối tiếp với hầu, ngang mức sụn nhẫn.
– Ngang mức cung động mạch chủ và phế quản gốc trái.
– Lỗ tâm vị.
Thực quản có cấu tạo từ trong ra ngoài gồm các lớp:
– Lớp niêm mạc: là lớp biểu mô lát tầng không sừng.
– Tấm dưới niêm mạc: chứa các tuyến tiết nhầy.
– Lớp cơ: gồm tầng vòng ở trong, tầng dọc ở ngoài. Lớp cơ thực quản gồm hai loại là cơ vân ở đoạn 1/3 trên và cơ trơn ở 2/3 dưới.
– Lớp vỏ ngoài là lớp tổ chức liên kết lỏng lẻo ở thực quản đoạn cổ và ngực, lớp phúc mạc ở thực quản đoạn bụng.
![]()
Hình 1. A và B: Giả phẫu thực quản. 1: Khí quản; 2: Động mạch chủ ; 3& 4: Thực quản; 5: Cơ hoành.
Hình phải: cấu trúc ống tiêu hóa: 1: Lớp thanh mạc; 2: Tấm dưới thanh mạc; 3: Lớp cơ; 4: Lớp dưới niêm mạc; 5: Lớp niêm mạc. Thực quản không có lớp thanh mạc, lớp dưới thanh mạc là lớp vỏ ngoài là lớp tổ chức liên kết lỏng lẻo ở thực quản đoạn cổ và ngực, lớp phúc mạc ở thực quản đoạn bụng.
1.2. Hẹp thực quản
Hẹp thực quản là tình trạng một đoạn thực quản bị tổn thương gây chít hẹp lòng thực quản, dẫn tới cản trở sự lưu thông, vận chuyển thức ăn xuống dạ dày. Hậu quả là bệnh nhân bị khó nuốt dẫn tới ăn uống kém, thậm chí suy kiệt do không ăn uống được gì.
1.3. Nguyên nhân hẹp thực quản
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ