ĐỊNH NGHĨA
TAĐMP là sự tăng bất thường áp lực động mạch phổi có thể là hậu quả của suy tim trái, tổn thương nhu mô phổi hoặc bệnh lý mạch máu, huyết khối tắc mạch hoặc sự kết hợp của các yếu tố trên. Bình thường áp lực động mạch phổi lúc nghỉ ngơi là 15 mmHg, mỗi năm tăng thêm 1 mmHg. Gọi là tăng áp động mạch phổi khi áp lực động mạch phổi trung bình ở người lớn > 25 mmHg (khi nghỉ ngơi).
CHẨN ĐOÁN
Chẩn đoán xác định
Lâm sàng
Triệu chứng cơ năng: Khó thở gắng sức, mệt mỏi, đau ngực.
Khám thực thể: tĩnh mạch cổ nổi, bắt mạch cảnh yếu, nghe tim có T2 mạnh ở ổ van động mạch phổi, tiếng thổi tâm trương do hở van động mạch phổi, thổi tâm thu do phụt ngược dòng vì van ba lá bị hở, xanh tím ngoại vi và/hoặc phù, gan to, cổ trướng ở giai đoạn cuối của bệnh.
Cận lâm sàng
X-quang ngực đường kính nhánh dưới động mạch phổi phải (chỉ số WOOD) > 16 mm.
Điện tim: trục phải, phì đại thất phải, nhĩ phải: P phế ở DII, DIII, aVF; sóng P ≥ 2/3 sóng R, R cao V1, S sâu ở V6, mỏm tim quay sau.
Siêu âm tim doppler giúp ước tính áp lực động mạch phổi trung bình > 25 mmHg.
Thông tim: là thủ thuật cơ bản đánh giá chính xác áp lực động mạch phổi.
Chẩn đoán nguyên nhân
Phân loại TAĐMP theo lâm sàng (Dana Point, 2008).
TAĐMP
Tự phát.
Có tính chất gia đình.
TAĐMP do thuốc (thuốc tránh thai, Rhumenol, Decolgen) và độc tố.
TAĐMP có liên quan với:
+ Bệnh mô liên kết.
+ Nhiễm HIV.
+ Tăng áp hệ tĩnh mạch cửa.
+ Bệnh tim bẩm sinh.
+ Bệnh sán máng.
+ Thiếu máu tan máu mạn tính.
TAĐMP kéo dài ở trẻ sơ sinh.
TAĐMP do bệnh tim trái
Suy tim tâm thu.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ