Tràn dịch màng phổi (TDMP) ác tính bao gồm những trường hợp TDMP do ung thư, dịch tái phát nhiều, nhanh. Thường thấy tế bào ác tính trong dịch màng phổi hoặc sinh thiết màng phổi thấy tổn thương ác tính.
CHỈ ĐỊNH ĐIỀU TRỊ
Chỉ định điều trị tình trạng tràn dịch màng phổi phụ thuộc vào triệu chứng lâm sàng, loại tế bào ung thư:
Tràn dịch màng phổi ác tính không triệu chứng, lượng dịch MP ít: không cần điều trị dịch MP, chỉ cần điều trị nguyên nhân hoặc các triệu chứng khác.
Một số ung thư vú, ung thư buồng trứng, hoặc u lympho: dịch MP tự hết khi điều trị u nguyên phát.
Các TDMP ác tính gây suy hô hấp không đáp ứng với điều trị hóa chất u nguyên phát: cần chọc tháo dịch MP để điều trị triệu chứng, sau đó cân nhắc điều trị phòng tái phát dịch MP.
LỰA CHỌN ĐIỀU TRỊ
Bảng 21.1: Các tiếp cận điều trị tràn dịch màng phổi ác tính.
| Lựa chọn | Lý do |
| Theo dõi | Tràn dịch màng phổi không triệu chứng, hầu hết các trường hợp sẽ tiến triển xấu đi và sau đó cần can thiệp điều trị. |
| Chọc tháo dịch màng phổi | Giảm khó thở tạm thời, hầu hết các trường hợp đều sẽ tái phát ngoại trừ trường hợp bệnh nhân đáp ứng với hóa trị liệu hoặc xạ trị liệu u nguyên phát. |
| Đặt dẫn lưu màng phổi | Hầu hết các trường hợp đều tái phát sau rút dẫn lưu màng phổi. |
| Đặt dẫn lưu kết hợp gây dính màng phổi qua ống dẫn lưu (ví dụ: bột talc nhũ dịch, iodopovidon) | Khoảng 90% số trường hợp không tái phát tràn dịch màng phổi. |
| Bơm bột talc qua nội soi màng phổi | Kiểm soát tràn dịch màng phổi được ở trên 90% số bệnh nhân. |
| Lưu ống dẫn lưu màng phổi lâu dài | Kiểm soát triệu chứng được ở hầu hết các bệnh nhân. Một số bệnh nhân xuất hiện dính màng phổi sau 2-6 tuần, sau đó rút dẫn lưu màng phổi. Cần lưu ý biến chứng nhiễm khuẩn. |
| Chà sát hoặc bóc màng phổi | Cần tiến hành nội soi màng phổi hoặc mở ngực. |
| Hiệu quả kiểm soát dịch màng phổi ở hầu hết các trường hợp. | |
| Dẫn lưu màng phổi – ổ bụng | Khi các lựa chọn điều trị khác không phù hợp. Biện pháp này có thể rất hữu ích cho tràn dịch dưỡng chấp màng phổi. |
| Hóa trị liệu | Có thể hữu ích ở một số bệnh nhân, như ung thư vú, u lympho, ung thư phổi tế bào nhỏ. |
| Xạ trị | Xạ trị trung thất có thể hữu ích trung u lympho hoặc tràn dịch dưỡng chấp màng phổi do bệnh lý lympho. |
Các bệnh nhân tràn dịch màng phổi ác tính có triệu chứng nên được bắt đầu với chọc tháo dịch màng phổi. Sau đó dựa theo tốc độ tái phát dịch màng phổi, tiên lượng của bệnh nhân, mức độ nặng của các triệu chứng để lựa chọn điều trị tiếp theo cho bệnh nhân.
Tràn dịch màng phổi tái phát chậm
Tái phát 1.000 ml dịch màng phổi sau 1 tuần.
Chọc tháo dịch màng phổi khi có khó thở.
Chọc tháo dịch màng phổi:
Là tiếp cận điều trị các trường hợp tràn dịch màng phổi ác tính tái phát chậm đơn giản nhất. Bệnh nhân được sát trùng, gây tê tại chỗ, sau đó dùng một kim chọc qua da tới vùng tràn dịch màng phổi. Biện pháp có thể được thực hiện tại phòng thủ thuật, hoặc tại giường bệnh. Lượng dịch chọc tháo một lần không nên quá 1.000 ml.
Tai biến phù phổi có thể xuất hiện khi:
+ Chọc tháo quá nhiều dịch màng phổi trong một lần: thường quá 1.500 ml.
+ Chọc tháo dịch màng phổi quá nhanh.
+ Áp lực hút dẫn lưu màng phổi vượt quá 25 cmH2O.
Nên ngừng hút dịch màng phổi khi xuất hiện các dấu hiệu như: đau ngực (thường là cảm giác đau tức phía ngực trước), ho thành cơn, khó thở (dấu hiệu muộn).
Tràn dịch màng phổi tái phát nhanh
Tái phát 1.000 ml dịch màng phổi sau < 1 tuần.
Các điều trị có thể lựa chọn bao gồm: đặt ống dẫn lưu dịch màng phổi, gây dính màng phổi, phẫu thuật bóc tách hoặc chà sát màng phổi, đặt dẫn lưu màng phổi – ổ bụng.
Đặt dẫn lưu màng phổi:
+ Là biện pháp ít xâm lấn, thường được lựa chọn ban đầu trong điều trị tràn dịch màng phổi ác tính. Thủ thuật là chỉ định ưu tiên cho những trường hợp tràn dịch màng phổi có xẹp phổi hoặc u gây tắc phế quản.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ