PHẦN MỞ ĐẦU
Bảng 1. Nhóm khuyến cáo

Bảng 2. Mức chứng cứ

ĐẠI CƯƠNG
Định nghĩa:
Huyết khối tĩnh mạch sâu chi dưới và thuyên tắc động mạch phổi được coi là hai biểu hiện cấp tính có chung một quá trình bệnh lý, gọi là thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch.
Dịch tễ học:
Thuyên tắc HKTM là một trong những vấn đề y khoa thường gặp, với tử suất, bệnh suất cũng như chi phí y tế rất lớn. Mỗi năm tại Hoa Kỳ có khoảng 900.000 ca bệnh thuyên tắc HKTM, gây ra 60.000 đến 300.000 ca tử vong hàng năm. Tần suất mới mắc hàng năm theo các nghiên cứu dịch tễ, là 80/100.000 dân. Nguy cơ thuyên tắc HKTM ở bệnh nhân nằm viện mà không được phòng ngừa dao động từ 10-80%. Theo nghiên cứu INCIMEDI tại Việt Nam, tỷ lệ thuyên tắc HKTM không triệu chứng ở bệnh nhân nội khoa nằm viện là 22%.
Sinh lý bệnh:
Cơ chế hình thành HKTM là do sự phối hợp của 3 yếu tố (gọi là tam giác Virchow): ứ trệ tuần hoàn tĩnh mạch, rối loạn quá trình đông máu gây tăng đông, và tổn thương thành mạch.
Yếu tố nguy cơ:
Các yếu tố nguy cơ chính của HKTM bao gồm:
Bảng 3. Các yếu tố nguy cơ chính của Thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch
| Yếu tố nguy cơ mắc phải (YTNC thúc đẩy) | Yếu tố nguy cơ di truyền (Tăng đông bẩm sinh) |
| Mới phẫu thuật, đặc biệt là phẫu thuật chỉnh hình
Chấn thương: cột sống, tủy sống, chi dưới Bất động: suy tim, đột quỵ… Ung thư Có thai Điều trị Hormone thay thế, hoặc thuốc tránh thai chứa Oestrogen Hội chứng thận hư Hội chứng kháng Phospholipid Bệnh lý viêm ruột Tiền sử HKTM |
Thiếu hụt Protein C
Thiếu hụt Protein S Thiếu hụt Antithrombin III Đột biến yếu tố V Leyden |
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ