Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh
Nội khoa BẢN ĐỌC THỬ

Khuyến cáo về chẩn đoán, điều trị và dự phòng thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch – Hội tim mạch học Việt Nam

28 phút đọc

PHẦN MỞ ĐẦU

Bảng 1. Nhóm khuyến cáo

Bảng 2. Mức chứng cứ

ĐẠI CƯƠNG

Định nghĩa:

Huyết khối tĩnh mạch sâu chi dưới và thuyên tắc động mạch phổi được coi là hai biểu hiện cấp tính có chung một quá trình bệnh lý, gọi là thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch.

Dịch tễ học:

Thuyên tắc HKTM là một trong những vấn đề y khoa thường gặp, với tử suất, bệnh suất cũng như chi phí y tế rất lớn. Mỗi năm tại Hoa Kỳ có khoảng 900.000 ca bệnh thuyên tắc HKTM, gây ra 60.000 đến 300.000 ca tử vong hàng năm. Tần suất mới mắc hàng năm theo các nghiên cứu dịch tễ, là 80/100.000 dân. Nguy cơ thuyên tắc HKTM ở bệnh nhân nằm viện mà không được phòng ngừa dao động từ 10-80%. Theo nghiên cứu INCIMEDI tại Việt Nam, tỷ lệ thuyên tắc HKTM không triệu chứng ở bệnh nhân nội khoa nằm viện là 22%.

Sinh lý bệnh:

Cơ chế hình thành HKTM là do sự phối hợp của 3 yếu tố (gọi là tam giác Virchow): ứ trệ tuần hoàn tĩnh mạch, rối loạn quá trình đông máu gây tăng đông, và tổn thương thành mạch.

Yếu tố nguy cơ:

Các yếu tố nguy cơ chính của HKTM bao gồm:

Bảng 3. Các yếu tố nguy cơ chính của Thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch

Yếu tố nguy cơ mắc phải (YTNC thúc đẩy) Yếu tố nguy cơ di truyền (Tăng đông bẩm sinh)
Mới phẫu thuật, đặc biệt là phẫu thuật chỉnh hình

Chấn thương: cột sống, tủy sống, chi dưới

Bất động: suy tim, đột quỵ… Ung thư

Có thai

Điều trị Hormone thay thế, hoặc thuốc tránh thai chứa Oestrogen

Hội chứng thận hư

Hội chứng kháng Phospholipid

Bệnh lý viêm ruột

Tiền sử HKTM

Thiếu hụt Protein C

Thiếu hụt Protein S

Thiếu hụt Antithrombin III

Đột biến yếu tố V Leyden

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

Gửi bình luận

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Exit mobile version
Trang Chủ