NGUYÊN NHÂN
Viêm màng ngoài tim co thắt có thể xảy ra sau bất cứ quá trình tổn thương màng ngoài tim nào, tuy nhiên ít khi xảy ra sau viêm màng ngoài tim tái phát. Nguy cơ tiến triển thành viêm màng ngoài tim co thắt tùy thuộc vào nguyên nhân:
Bảng 8.2: Nguyên nhân và nguy cơ tiến triển thành viêm màng ngoài tim co thắt
| Nguyên nhân viêm màng ngoài tim | Nguy cơ tiến triển thành viêm màng ngoài tim co thắt |
| Viêm màng ngoài tim do vi khuẩn | Cao, khoảng 20 – 30 % (trong viêm mủ màng ngoài tim có thể lên đến 50%) |
| Viêm màng ngoài tim do bệnh tự miễn hoặc bệnh lý màng ngoài tim liên quan đến các khối u | Trung bình, khoảng 2 – 5 % |
| Viêm màng ngoài tim do virus hoặc vô căn | Thấp, khoảng 1% |
Lao là nguyên nhân gây viêm màng ngoài tim co thắt hàng đầu tại các nước đang phát triển.
Các nguyên nhân khác bao gồm : Chấn thương (có phẫu thuật hoặc không) kèm nhiễm trùng khoang màng ngoài tim, sau điều trị xạ trị…
TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG
Bệnh cảnh của viêm màng ngoài tim co thắt thường xảy ra sau các biểu hiện của đợt viêm màng ngoài tim cấp.
Triệu chứng cơ năng
Mệt, phù chân, cổ trướng, tức nặng vùng gan do gan to.
Khó thở, thường khó thở khi gắng sức, sau có thể khó thở thường xuyên.
Triệu chứng thực thể
Các triệu chứng lâm sàng là biểu hiện của suy chức năng tâm trương do giảm khả năng giãn nở của thất phải và thất trái trong thì tâm trương, gây nên các triệu chứng của ứ trệ tuần hoàn.
Biểu hiện ở phía tim phải dễ nhận thấy hơn như: Phù, gan to, tĩnh mạch cổ nổi, có thể tràn dịch màng phổi hai bên. Trong khi đó các biểu hiện ở phía tim trái kín đáo hơn : Khó thở do tăng áp lực mao mạch phổi, ít gặp hơn là phù phổi cấp.
Dấu hiệu Kussmaul : Khi hít sâu vào tĩnh mạch cảnh nổi hơn. Do khi hít sâu, áp lực âm trong lồng ngực tăng lên, làm máu về tim nhiều hơn, nhưng thất phải lại bị hạn chế giãn nở dẫn đến ứ máu ở nhĩ phải và trào lên các tĩnh mạch cổ.
Tiếng gõ màng ngoài tim: là một âm thanh có tần số trung bình, xuất hiện sớm hơn một chút so với tiếng T3, có thể nghe thấy nhưng hiếm khi sờ thấy.
Mạch nghịch thường: thường xuất hiện khi bệnh nhân có kèm theo tràn dịch màng ngoài tim gây ép tim hoặc có bệnh lý phổi đồng mắc.
CẬN LÂM SÀNG
Điện tâm đồ
Gần như luôn bất thường nhưng không đặc hiệu (điện thế thấp, sóng T dẹt/đảo ngược lan tỏa). Rung nhĩ có thể gặp trong khoảng 20% trường hợp, chủ yếu trong bệnh cảnh của viêm màng ngoài tim co thắt mạn tính.
X-quang ngực
Kích thước bóng tim bình thường trong khi triệu chứng suy tim ứ dịch rõ thường gợi ý bệnh màng ngoài tim co thắt hoặc bệnh cơ tim hạn chế.
Canxi hóa màng ngoài tim là dấu hiệu có giá trị chẩn đoán nhưng thường chỉ gặp ở % số trường hợp.

Hình 8.9: X-quang điển hình viêm màng ngoài tim co thắt: Vôi hóa màng ngoài tim
Siêu âm tim
Biểu hiện trên siêu âm TM và 2D :
Dày và canxi hóa màng ngoài tim: Quan sát rõ trên siêu âm TM hoặc siêu âm 2D. Bình thường màng ngoài tim dày không quá 2 mm, màng ngoài tim dày > 3-4 mm là dày có ý nghĩa trong VMNT co thắt.
Vận động bất thường của vách liên thất theo hô hấp : Trong thì hít vào, vách liên thất bị đẩy lệch sang thất trái, trong thì thở ra vách liên thất trở lại vị trí bình thường.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ