ĐỊNH NGHĨA:
GIẢI PHẪU BỆNH:
Vị trí của nứt hậu môn thường xảy ra ở điểm yếu của hậu môn là tam giác Minor. Nốt loét thường đơn độc 90% ở cực sau của ống hậu môn, còn lại ở cực trước, hầu như không bị ở hai bên. Một số tác giả cho là một dạng loét dinh dưỡng. Có hai loại tổn thương loét:
Loét cấp: Vết nứt nông, hình bầu dục hay tam giác, nhưng do cơ thắt làm rúm lại, đầu trên sát vùng răng lược đầu dưới ra tới rìa hậu môn. Vết nứt có màu đỏ tươi, sưng nề.
Loét mạn tính. Đáy thường sâu, có bờ dày, gồ lên, nắn chắc, vết nứt sưng nề, nhợt nhạt hoặc xám. Vết loét thường có hình vợt ngược đầu trong nhỏ hơn, qua đáy ổ loét thấy được các sợi cơ thắt trong màu trắng bẩn. Tổ chức gần vết nứt như mảnh da thừa ở mép hậu môn, nhú phì đại ở đầu trong ổ loét sát đường lược.
Vi thể: Đáy ổ loét có tổ chức hạt, tổ chức liên kết quá sản, thành mạch phì đại, bờ ổ loét có hiện tượng sừng hoá, cơ thắt trong tại chỗ bị viêm xơ.
NGUYÊN NHÂN:
Có nhiều nguyên nhân và điều kiện thuật lợi được đề cấp đến:
Do viêm nhiễm hậu môn: theo Oh – 1995 sau khi đại tiện, phân bị mắc kẹt ở các nếp hậu môn tạo ra amoniac phối hợp với ion Cl_ từ mồ hôi kích thích gây viêm nhiễm quanh hậu môn. Các tế bào viêm sản sinh ra các men phân hủy chất keo, làm giảm sức bền tổ chức, khi có sự căng dãn thì nứt dễ xuất hiện, nhất là khi phân rắn đi qua sẽ làm rách lớp niêm mạc da hậu môn tạo nên ổ loét.
Do viêm xơ cơ thắt trong: khối cơ thắt hậu môn phì đại, tăng trương lực, có thắt rất mạnh, sự co thắt của cơ thắt trong là yếu tố cơ bản làm cho ổ loét không liền được. Áp lực hậu môn lúc nghỉ rất cao trong nứt kẽ hậu môn. Đây là cơ sở lý luận cho phẫu thuật mở cơ thắt trong điều trị nứt kẽ hậu môn.
Do thiếu máu tại chỗ làm ổ loét không liền được và gọi là loét thiếu máu.
Do cấu trúc huyết hổng của cơ thắt hậu môn từ bào thai.
Chấn thương: phân rắn, sau mổ cắt trĩ, hẹp hậu môn, sau khi rặn đẻ.
Yếu tố cơ địa.
Ổ loét hay nằm ở vị trí đường giữa sau được Eisenhammer – 1951 giải thích do 4 lý do sau:
Điểm yếu về giải phẫu: do sự sắp sếp của các thớ cơ thắt làm cho vị trí này bị kéo căng nhiều nhất (vùng tam giác Minor)
Lớp da niêm mạc dính chặt vào các thớ xơ chun của lớp cơ phức hợp dọc, thường hoạt động theo cơ thắt trong, khi kích thích bị kéo sang hai phía tách khỏi đường giữa.
Da và niêm mạc ở phía sau thường bị lõm sâu bởi các hốc tuyến nên dễ yếu.
Do co kéo của búi trĩ hay po líp khi sa ra ngoài nhất là khi rặn.
Sau biến chứng của một số bệnh hậu môn trực tràng: trĩ (9-10%), ngứa hậu môn, u lồi (Condylome), viêm trực tràng, viêm quanh hậu môn.
LÂM SÀNG:
Đau hậu môn: Đau như bỏng rát hậu môn, làm cho bệnh nhân rất sợ đi đại tiện. Đau qua 3 giai đoạn:
Khi đại tiện khối phân bắt đầu đi qua hậu môn.
Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung
Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ