PHỤ LỤC 1 – HƯỚNG DẪN LẤY ĐỜM LÀM XÉT NGHIỆM

Đờm lấy từ tổn thương trong phổi Không khạc đờm từ mũi hoặc miệng

Hít vào thật sâu
Thở ra thật mạnh
Hít vào thật sâu, thở ra thật mạnh (lần 2)
Hít sâu, thở mạnh lần 3, ho khạc thật sâu từ trong phổi
Đặt cốc đờm (đã mở nắp) vào sát miệng, nhổ đờm vào đáy cốc. Vặn chặt nắp.
Nộp cốc đờm và phiếu xét nghiệm cho người hướng dẫn (NVYT). Không đặt cốc đờm lên phiếu xét nghiệm.
Lưu ý: Nếu lượng đờm quá ít (< 2ml) và không có chất nhày mủ, làm lại các bước trên để có mẫu đờm đạt chất lượng.

| Bệnh phẩm đờm đạt tiêu chuẩn | Bệnh phẩm đờm đạt tiêu chuẩn | Bệnh phẩm đờm không đạt tiêu chuẩn |
Đờm đạt tiêu chuẩn sẽ chẩn đoán bệnh chính xác!
PHỤ LỤC 2

thường…) còn tồn tại. Không sử dụng nhóm Fluoquinolone vì nhóm thuốc này có tác dụng với vi khuẩn lao do vậy không phân biệt được giữa viêm do lao hay vi khuẩn khác. Nếu đã quyết định điều trị lao cần điều trị hết công thức và đủ thời gian tuân thủ nguyên tắc có kiểm soát trực tiếp.
PHỤ LỤC 3 – SƠ ĐỒ CHẨN ĐOÁN LAO KHÁNG THUỐC

PHỤ LỤC 4

Chú thích
Người bệnh đến không có dấu hiệu nặng (tự đi lại được, không khó thở, không sốt cao, mạch dưới 120/phút).
Lao phổi AFB(+) khi có ít nhất một lần dương tính, c AFB âm tính khi có ≥ 2 mẫu đờm AFB(-). d CPT: Điều trị dự phòng bằng Cotrimoxazol. e Đánh giá HIV bao gồm: phân loại lâm sàng, xét nghiệm đếm CD4 và xem xét điều trị HIV/AIDS (bao gồm cả ART).
Chỉ một số nơi có điều kiện nuôi cấy. Phim chụp X-quang đã sẵn có từ lần khám đầu tiên, nếu có phim chụp các lần trước đây để so sánh càng tốt. Người bệnh được đánh giá kỹ về lâm sàng và X-quang phổi để chẩn đoán xác định hoặc loại trừ.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ