(SÁCH DỊCH) Sản Phụ khoa Căn bản – Essential Obstetrics and Gynaecology
Tác giả: Ian Symonds & Sabaratnam Arulkumaran – (C) NXB Elsevier
Ths.Bs. Lê Đình Sáng (Dịch và chú giải)
Chương 1. Giải phẫu khung chậu nữ
Anatomy of the female pelvis
Caroline de Costa
Essential Obstetrics and Gynaecology, Chapter 1, 2-11
MỤC TIÊU HỌC TẬP
| Sau khi học xong chương này, bạn sẽ có thể:
Tiêu chí kiến thức
|
Kiến thức về các đặc điểm chính của khung chậu nữ là rất cần thiết để hiểu các quá trình sinh sản, mang thai và sinh nở, cũng như ảnh hưởng của các quá trình bệnh lý khác nhau lên các cơ quan trong khung chậu và sức khỏe của người phụ nữ.
Cấu trúc và chức năng của các cơ quan sinh dục thay đổi đáng kể theo độ tuổi và tình trạng nội tiết tố của mỗi cá nhân, như sẽ được trình bày rõ trong Chương 16, chương này đề cập đến những thay đổi diễn ra trong tuổi dậy thì và mãn kinh. Chương này nhằm mục đích phác thảo các cấu trúc chính cấu thành khung chậu nữ, chủ yếu ở phụ nữ đã trưởng thành về mặt sinh dục.
Khung chậu xương
Khung chậu xương bao gồm cặp xương vô danh (mỗi xương gồm xương chậu, xương ngồi và xương mu) cùng với xương cùng và xương cụt (Hình 1.1).
Các xương vô danh được nối với nhau ở phía trước tại khớp mu, và mỗi xương khớp với xương cùng ở phía sau tại các khớp cùng-chậu. Cả ba khớp này đều cố định ở trạng thái không mang thai, nhưng trong thai kỳ, các khớp này sẽ giãn ra để cho phép một số chuyển động trong quá trình chuyển dạ và sinh nở. Xương cùng khớp với đốt sống thắt lưng thứ năm ở phía trên và xương cụt ở phía dưới.
Khung chậu xương được chia thành đại khung (khung chậu lớn) và tiểu khung (khung chậu bé) bởi eo trên. Tiểu khung được chia thành ba phần: eo trên (giới hạn phía trước bởi mặt trên của xương mu và phía sau bởi mỏm nhô và cánh xương cùng); eo giữa (ở mức gai ngồi); và eo dưới (giới hạn phía trước bởi bờ dưới của khớp mu, hai bên bởi các ụ ngồi và phía sau bởi đỉnh xương cùng).
Gai ngồi có thể dễ dàng sờ thấy khi thăm khám âm đạo trong quá trình chuyển dạ và là điểm mốc để đánh giá sự xuống của đầu thai nhi trong quá trình chuyển dạ và sinh nở.
Cơ quan sinh dục ngoài
Thuật ngữ âm hộ thường được dùng để mô tả cơ quan sinh dục ngoài của phụ nữ và bao gồm gò mu, môi lớn, môi bé, âm vật, lỗ niệu đạo ngoài, tiền đình âm đạo, lỗ âm đạo và màng trinh (Hình 1.2).
Gò mu, đôi khi được gọi là mons veneris, được cấu tạo bởi một lớp mô đệm mỡ-xơ nằm phía trên khớp mu và ở phụ nữ trưởng thành, được bao phủ bởi một lớp lông mu rậm rạp. Bờ trên của lớp lông này thường thẳng hoặc cong lồi lên trên và khác với sự phân bố thông thường ở nam giới. Lông mu thường bắt đầu xuất hiện trong độ tuổi từ 11 đến 12.
Môi lớn bao gồm hai nếp da dọc kéo dài xuống dưới và ra sau từ gò mu ở phía trước đến đáy chậu ở phía sau. Môi lớn được cấu tạo bởi một bề mặt ngoài có lông và các tuyến mồ hôi, và một lớp trong nhẵn chứa các nang tuyến bã. Môi lớn bao bọc khe âm hộ, nơi có lỗ niệu đạo và lỗ âm đạo mở ra.
Phía sau lỗ âm đạo, các môi lớn hợp lại tạo thành mép sau âm hộ, và khu vực giữa cấu trúc này và bờ trước của hậu môn tạo thành đáy chậu sản khoa.
Môi lớn tương đồng với bìu của nam giới.
Môi bé nằm bên trong môi lớn và là các nếp da bao bọc âm vật ở phía trước và hợp nhất ở phía sau, sau lỗ âm đạo để tạo thành hãm môi âm hộ hay bờ sau của lối vào âm đạo. Ở phía trước, môi bé chia ra để bao bọc âm vật, với nếp trước tạo thành mũ âm vật và nếp sau tạo thành hãm âm vật. Chúng có rất nhiều mạch máu và dây thần kinh và có khả năng cương cứng. Chúng không có lông nhưng rất giàu tuyến bã.
Âm vật là cơ quan tương đồng với dương vật của nam giới và nằm giữa hai đầu trước của môi bé. Thân âm vật bao gồm hai vật hang được cấu tạo từ mô cương, bao bọc trong một lớp vỏ xơ. Ở phía sau, hai vật hang này chia ra để nằm dọc theo ngành dưới của xương mu. Đầu tự do của âm vật chứa quy đầu, được cấu tạo từ mô cương, bao phủ bởi da và được cung cấp rất nhiều đầu dây thần kinh cảm giác, do đó rất nhạy cảm. Âm vật đóng một vai trò quan trọng trong kích thích và chức năng tình dục.
Tiền đình bao gồm một vùng trũng nông nằm giữa hai môi bé. Lỗ niệu đạo ngoài mở vào tiền đình ở phía trước và lỗ âm đạo ở phía sau. Ống dẫn của hai tuyến Bartholin đổ vào tiền đình ở bờ sau của lối vào âm đạo, và chất tiết từ các tuyến này có vai trò bôi trơn quan trọng trong quá trình giao hợp.
Các ống Skene nằm dọc theo 1 cm dưới của niệu đạo và cũng đổ vào tiền đình. Mặc dù chúng có một số chức năng bôi trơn, nhưng vai trò này không đáng kể so với chức năng của tuyến Bartholin.
Hành tiền đình bao gồm hai thể cương nằm ở hai bên lỗ âm đạo và tiếp xúc với bề mặt của hoành niệu-dục. Hành tiền đình được bao phủ bởi một lớp cơ mỏng được gọi là cơ hành hang.
Lỗ niệu đạo ngoài nằm cách gốc âm vật 1.5-2 cm và thường được che phủ bởi môi bé, bộ phận này cũng có chức năng định hướng dòng nước tiểu. Ngoài các ống Skene, thường có một số tuyến cạnh niệu đạo không có ống dẫn liên quan, và chúng đôi khi là cơ sở hình thành các nang cạnh niệu đạo.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ