European Heart Journal, 14 January 2019 https://doi.org/10.1093/eurheartj/ehy462
GIỚI THIỆU
Trong cuối thế kỷ 19, từ việc nghiên cứu trên cơ thể sau khi tử vong đã chứng minh có thể có mối liên quan giữa tắc mạch vành do huyết khối và nhồi máu cơ tim (NMCT)
Tuy nhiên, cho đến đầu thế kỷ 20 khi những mô tả lâm sàng đầu tiên đã cho thấy sự liên quan giữa sự hình thành huyết khối trong động mạch vành và đặc điểm lâm sàng liên quan của nó.
Những năm sau đó, vài định nghĩa khác nhau về nhồi máu cơ tim được sử dụng, dẫn đến tranh cãi và nhầm lẫn. Vì thế, định nghĩa chung và thống nhất toàn cầu cho nhồi máu cơ tim là cần thiết. Lần đầu tiên đã diễn ra vào những năm 1950-70, khi các nhóm làm việc từ WHO đã thiết lập định nghĩa nhồi máu cơ tim chính yếu dựa vào điện tâm đồ (ECG) nhằm mục đích sử dụng dịch tễ. Mô tả trong bản gốc, với thay đổi nhỏ, vẫn còn được sử dụng trong khảo sát dịch tễ.
Với việc đưa vào sử dụng của các chỉ điểm sinh học tim mạch (cardiac biomarkers), ESC và ACC đã cùng nhau tái định nghĩa nhồi máu cơ tim sử dụng tiếp cận lâm sàng và xét nghiệm hóa sinh, và cho rằng tổn thương cơ tim được phát hiện bởi bất thường chỉ điểm sinh học trong tình huống thiếu máu cơ tim cấp nên được xem như nhồi máu cơ tim.
Nguyên lý này được tái định nghĩa thêm vào, dẫn đến việc đưa ra tài liệu đồng thuận về định nghĩa toàn cầu về nhồi máu cơ tim vào năm 2007, phân loại nhồi máu cơ tim mới có 5 nhóm được giới thiệu.
Tài liệu này được phê duyệt bởi, ESC, ACCF, AHA, WHF (World Heart Federation), được chấp nhận bởi WHO. Tuy nhiên từ sự phát triển của những xét nghiệm khá nhạy chỉ điểm tổn thương cơ tim khiến cần duyệt lại tính cần thiết trong dữ liệu, và đã cho ra tài liệu đồng thuận định nghĩa toàn cầu lần thứ 3 về nhồi máu cơ tim vào năm 2012.
ĐỊNH NGHĨA TOÀN CẦU VỀ TỔN THƯƠNG CƠ TIM VÀ NHỒI MÁU CƠ TIM
Tiêu chuẩn chẩn đoán tổn thương cơ tim
Thuật ngữ tổn thương cơ tim (TTCT) nên được sử dụng khi có bằng chứng của giá trị troponin tăng (cTn) với ít nhất một giá trị lớn hơn 99th percentile URL.
TTCT được xem là cấp khi có tự tăng và/hoặc giảm của giá trị cTn.
Tiêu chuẩn chẩn đoán NMCT cấp (type 1, 2, và 3)
Thuật ngữ NMCT cấp nên được sử dụng khi có TTCT cấp với bằng chứng lâm sàng của TMCT cấp và có sự tăng và/hoặc giảm của giá trị cTn với ít nhất một giá trị cao hơn 99th percentile URL và ít nhất một trong các điểm sau đây
Các triệu chứng của thiếu máu cơ tim
Thay đổi mới trong ECG do TMCT
Sự hình thành sóng Q bệnh lý
Bằng chứng hình ảnh của mất đi cơ tim còn sống mới xuất hiện hoặc bất thường vận động vùng mới xuất hiện phù hợp với nguyên nhân TMCT
Xác định được huyết khối trong mạch vành bởi chụp mạch vành hoặc tử thiết (không dùng cho NMCT type 2 hoặc type 3)
Tiêu chuẩn chẩn đoán NMCT liên quan thủ thuật mạch vành (type 4, 5)
NMCT liên quan PCI được đặt tên là NMCT type 4a. NMCT liên quan CABG được đặt tên là NMCT type 5. NMCT liên quan thủ thuật mạch vành ≤ 48 giờ được thống nhất định nghĩa là tăng cTn hơn 5 lần trong NMCT type 4a và hơn 10 lần trong NMCT type 5 so với 99th percentile URL ở bệnh nhân có giá trị troponin ban đầu bình thường. Ở các bệnh nhân có giá trị cTn đã tăng trước thủ thuật và ở mức ổn định (dao động ≤ 20%) hoặc đang giảm, phải thỏa tiêu chuẩn tăng gấp 5 hoặc 10 lần và có sự thay đổi so với giá trị ban đầu > 20%. Thêm vào đó, có một trong các tiêu chí sau:
Thay đổi ECG do thiếu máu cơ tim mới xuất hiện. (tiêu chuẩn này chỉ liên quan với NMCT type 4a) – Sự tiến triển hình thành sóng Q bệnh lý;
Bằng chứng hình ảnh học của mất đi cơ tim còn sống mà được cho là mới và phù hợp với nguyên nhân thiếu máu cơ tim;
Hình ảnh chụp mạch vành cho thấy có biến chứng liên quan với chậm tưới máu mạch vành do thủ thuật như: bóc tách mạch vành, tắc mạch vành ở nhánh chính hoặc graft, huyết khối tắc nhánh bên, sự cản trở từ tưới máu qua tuần hoàn bàng hệ hoặc thuyên tắc mạch vành đoạn xa.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ