PGS.TS. Hà Hoàng Kiệm, BV103, HVQY.
1. Đại cương
1.1. Sơ lược giải phẫu khớp vai
Khớp vai là khớp có tầm vận động rộng nhất so với các khớp khác trong cơ thể, nhờ đó hoạt động của tay được linh hoạt. Trong quá trình tiến hóa, con người đi bằng hai chân ở tư thế đứng thẳng, hai tay được tự do, khớp vai cũng tiến hóa để phù hợp với hoạt động linh hoạt của chi trên. Do đó, ngoài khớp ổ chảo – cánh tay là khớp nối giữa đầu trên xương cánh tay với xương bả vai, hoạt động chức năng của khớp vai còn có sự tham gia của 4 khớp khác, trong đó chỉ có 3 khớp có cấu trúc khớp thực thụ (khớp giải phẫu), còn hai khớp không có cấu trúc của một khớp thực thụ mà nó được gọi là khớp vì có chức năng như một khớp (khớp chức năng). Như vậy hoạt động của khớp vai là sự phối hợp của 5 khớp, bao gồm:
– Khớp ổ chảo – cánh tay (khớp giải phẫu). Khi nói tới khớp vai, người ta thường ám chỉ khớp này. Khớp được tạo bởi ổ chảo của xương bả vai và lồi cầu của đầu trên xương cánh tay.
– Khớp bả vai – lồng ngực (khớp chức năng): được tạo bởi xương bả vai và mặt sau của lồng ngực.
– Khớp trên vai: được tạo bởi đầu trên xương cánh tay với cung cùng – quạ (khớp chức năng).
– Khớp cùng – đòn (khớp giải phẫu): được tạo bởi mỏm cùng của xương bả vai và đầu ngoài xương đòn.
– Khớp ức – đòn (khớp giải phẫu): được tạo bởi góc trên ngoài cán xương ức và đầu trong xương đòn.
Hoạt động chức năng của khớp vai là sự phối hợp hoạt động của 5 khớp trên, giúp cho tầm hoạt động chức năng của khớp vai rất rộng và linh hoạt. Bất kỳ tổn thương chức năng của một khớp nào trong các khớp trên đều ảnh hưởng tới hoạt động chức năng của khớp vai.
Trong 5 khớp trên, khi nói khớp vai thì thường người ta ám chỉ khớp ổ chảo – cánh tay. Nói sai khớp vai cũng là chỉ sai khớp ổ chảo – cánh tay, vì vậy trong phần này chúng tôi cũng chỉ mô tả khớp ổ chảo – cánh tay.
![]()
Hình 1. Các thành phần cấu tạo của khớp vai. Hình trái: Hình ảnh X-quang khớp vai trái bình thường. Hình phải: Hình minh họa tương ứng.
Khớp ổ chảo – cánh tay
Đây là khớp có cấu trúc giải phẫu thực thụ, được tạo bởi ổ chảo của xương bả vai với lồi cầu của đầu trên xương cánh tay. Khớp ổ chảo – cánh tay là điển hình của một khớp tiếp giáp không hoàn toàn, có nghĩa là diện ổ chảo nông và nhỏ nên không tiếp giáp hoàn toàn với diện lồi cầu lớn, mà diện ổ chảo chỉ tiếp giáp với một phần của diện lồi cầu. Lồi cầu không có hình cầu mà có hình bầu dục, có diện tích lớn hơn ổ chảo, nên luôn có một diện tích bề mặt lồi cầu nằm ngoài ổ chảo. Khi vận động lồi cầu xoay và trượt trên ổ chảo, nên tính ổn định của khớp thấp. Vì ổ chảo nông và hẹp nên có một sụn, viền quanh chu vi ổ chảo để làm tăng diện tích ổ chảo, được gọi là sụn viền ổ chảo.
Bao khớp ổ chảo – cánh tay có thành mỏng bám vào bờ của ổ chảo. Có một phần xương sụn mỏng của ổ chảo nằm trong bao khớp, đây là sụn viền ổ chảo, đó là chỗ có thể gây viêm xương sụn trong bao khớp. Khi trật khớp, sụn viền ổ chảo thường bị vỡ ở chỗ lồi cầu trượt ra khỏi ổ chảo. Phía ngoài, bao khớp bám vào toàn bộ cổ giải phẫu của xương cánh tay. Có màng hoạt dịch phủ mặt trong bao khớp, từ vùng sụn của đầu trên xương cánh tay tới vùng sụn của ổ chảo. Đầu dài gân cơ nhị đầu chạy trong rãnh nhị đầu của xương xánh tay, luồn vào phần trên của bao khớp để bám vào diện trên của ổ chảo. Gân dài cơ nhị đầu tuy luồn trong bao khớp nhưng nằm ngoài bao hoạt dịch (bao hoạt dịch phủ lên nó), nên tuy nằm trong khớp nhưng gân dài cơ nhị đầu không nằm trong ổ khớp. Bao khớp ôm chặt gân cơ nhị đầu đi xuống dưới rãnh liên mấu chuyển và dừng lại ở chỗ bám của cơ ngực lớn. Bao hoạt dịch cũng ôm gân cơ nhị đầu chạy xuống dưới trong rãnh nhị đầu xương cánh tay và dừng lại cùng chỗ bao khớp dừng ở điểm bám của cơ ngực lớn, tạo nên túi cùng hoạt dịch gân cơ nhị đầu. Bao hoạt dịch khớp cũng có một ngách, tạo thành một túi cùng hoạt dịch đệm dưới mỏm quạ, gọi là túi hoạt dịch dưới mỏm quạ.
![]()
Hình 2. Ổ chảo và bao hoạt dịch khớp ổ chảo – cánh tay.
Vì tầm vận động của khớp ổ chảo – cánh tay rất rộng, để phù hợp với chức năng đó thì bao khớp ổ chảo – cánh tay rộng và có tính chùng giãn. Khi cánh tay xuôi áp sát thân mình thì bao khớp phía trên căng, bao khớp phía dưới (phía nách) chùng và gấp nếp như một túi ở dưới gọi là nếp nách. Ngược lại, khi cánh tay dạng và giơ lên sát đầu thì bao khớp phía dưới (phía nách) căng ra, còn bao khớp phía trên chùng và gấp nếp lên trên. Bao khớp cũng căng và chùng tương tự như vậy khi đưa cánh tay ra trước hoặc ra sau.
![]()
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ