Patient-Ventilator Interactions: Optimizing Conventional Ventilation Modes
Neil R MacIntyre
Respiratory Care January 2011, 56 (1) 73-84; DOI: https://doi.org/10.4187/respcare.00953
Dịch bài: BS. Đặng Thanh Tuấn – BV Nhi Đồng 1
TÓM TẮT
Thở có hỗ trợ (tương tác) thường được ưu tiên hơn là thở có kiểm soát ở bệnh nhân thở máy. Thở hỗ trợ cho phép sử dụng các cơ hô hấp của bệnh nhân và có thể ngăn ngừa chứng teo cơ hô hấp. Hơn nữa, trung khu hô hấp của bệnh nhân không cần phải bị ức chế mạnh. Tuy nhiên, nhịp thở tương tác cần phải được đồng bộ với nỗ lực của bệnh nhân trong quá trình kích hoạt, cung cấp lưu lượng và các chu kỳ thở. Sự không đồng bộ trong bất kỳ thời gian nào trong số này có thể tạo ra một tải không thể chịu nổi được lên các cơ hô hấp, dẫn đến mệt mỏi và cần phải sử dụng một lượng thuốc an thần cao hoặc thậm chí là thuốc giãn cơ. Các chế độ thông khí hiện tại có một số tính năng có thể theo dõi và tăng cường tính đồng bộ, bao gồm điều chỉnh biến số kích hoạt, sử dụng nhịp thở nhắm mục tiêu áp lực so với mục tiêu lưu lượng cố định và thao tác với biến số chu kỳ. Các bác sĩ lâm sàng cần biết cách sử dụng các chế độ thông khí này và theo dõi chúng đúng cách, đặc biệt là hiểu rõ về áp lực đường thở và lưu lượng. Thách thức lâm sàng là đồng bộ hóa việc cung cấp khí thở máy với nỗ lực của bệnh nhân.
GIỚI THIỆU
Nhịp thở được cung cấp bởi máy thở cơ học có thể được coi là được kiểm soát (controlled) hoặc được hỗ trợ (assisted).1 Nhịp thở được kiểm soát có nghĩa là máy xác định tần số, thời gian hít vào và thể tích khí lưu thông (VT), vì vậy bệnh nhân không tự thở. Với nhịp thở được kiểm soát, thuốc an thần và thuốc liệt cơ có thể cần thiết để ngăn chặn nhịp tự thở của bệnh nhân có thể cản trở quá trình cung cấp nhịp thở. Điều này cũng có nguy cơ làm tổn thương và teo cấu trúc cơ hoành (còn gọi là rối loạn chức năng cơ hoành do máy thở, ventilator-induced diaphragmatic dysfunction).2,3 Ngược lại, trong một nhịp thở hỗ trợ, bệnh nhân tương tác theo một cách nào đó với máy thở, do đó công thở được chia sẻ giữa máy thở và người bệnh.
Với nhịp thở hỗ trợ, nhu cầu an thần có thể ít hơn và chức năng cơ hô hấp của bệnh nhân có thể phục hồi nhanh hơn,5,6 nhưng điều này đòi hỏi lưu lượng và áp lực của máy thở phải đồng bộ với nỗ lực của bệnh nhân trong cả 3 giai đoạn thở: bắt đầu, cung cấp và kết thúc. Việc gây ra sự chậm trễ kích hoạt, cung cấp lưu lượng không đầy đủ hoặc không khớp giữa thời điểm kết thúc hít vào và thời điểm bắt đầu thở ra có thể tạo ra một tải trọng đáng kể lên bệnh nhân 5-7 và dẫn đến mệt mỏi cơ bắp, khó chịu và ngày càng có nhu cầu sử dụng thuốc an thần hoặc thậm chí là liệt cơ. Tầm quan trọng của sự không đồng bộ của máy thở ở bệnh nhân đã được chỉ ra trong một số nghiên cứu.8–11 Trong một nghiên cứu, sự không đồng bộ đáng kể có liên quan đến thời gian thở máy lâu hơn nhiều và thậm chí có xu hướng dẫn đến tử vong nhiều hơn.8 Thách thức lâm sàng là cung cấp hỗ trợ thở máy phù hợp với sự nỗ lực của bệnh nhân: đây là khái niệm chỉ sự đồng bộ giữa thở máy với trung khu hô hấp của bệnh nhân.
CÁC TÍNH NĂNG KHẢ DỤNG TRÊN CÁC CHẾ ĐỘ THÔNG THƯỜNG GIÚP TĂNG CƯỜNG TÍNH ĐỒNG BỘ
Tính năng thiết kế chế độ và nhịp thở
Như đã nói ở trên, nhịp thở của máy thở có thể được mô tả bằng cái gì bắt đầu nhịp thở, cái gì chi phối lưu lượng khí trong suốt nhịp thở và cái gì kết thúc nhịp thở [tương ứng là các biến số kích hoạt (trigger), mục tiêu (target) và chu kỳ (cycle)]. Máy thở thông thường ngày nay cung cấp 5 kiểu thở cơ bản (Bảng 1 và Hình 1):
Nhịp thở kiểm soát thể tích (volume-control breath) được kích hoạt theo thời gian, mục tiêu theo lưu lượng và theo chu kỳ thể tích.
Nhịp thở trợ giúp thể tích (volume-assist breath) được kích hoạt bằng nỗ lực, mục tiêu theo lưu lượng và theo chu kỳ thể tích.
Nhịp thở kiểm soát áp lực (pressure-control breath) được kích hoạt theo thời gian, mục tiêu áp lực và theo chu kỳ thời gian.
Nhịp thở trợ giúp áp lực (pressure-assist breath) được kích hoạt bằng nỗ lực, mục tiêu áp lực và theo chu kỳ thời gian.
Nhịp thở hỗ trợ áp lực (pressure-support breath) được kích hoạt bằng nỗ lực, có mục tiêu áp lực và theo chu kỳ của lưu lượng.
Bảng 1. Tiêu chí về kích hoạt, mục tiêu và chu kỳ của 5 loại nhịp thở cơ bản


Hình 1. Các biểu đồ về áp lực, lưu lượng và thể tích đường thở minh họa 5 kiểu thở cơ bản trong Bảng 1. Các đường liền nét cho biết các thông số do bác sĩ lâm sàng cài đặt. Các đường chấm chỉ ra các tác động khác nhau được xác định bởi cơ học và nỗ lực của hệ thống hô hấp. TI = thời gian hít vào. (Được điều chỉnh từ Tài liệu tham khảo 1, với sự cho phép.)
Bảng 2. Các chế độ thông khí và 5 kiểu thở cơ bản và nhịp thở tự phát không được hỗ trợ

Ba trong số các loại nhịp thở này có thể được coi là nhịp thở hỗ trợ hoặc tương tác: trợ giúp thể tích, trợ giúp áp lực và hỗ trợ áp lực.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ