Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh
Nội khoa BẢN ĐỌC THỬ

Vai trò của hỗ trợ hô hấp không xâm lấn và HFNC ở bệnh nhân ICU

20 phút đọc

Vai trò của hỗ trợ hô hấp không xâm lấn và thở lưu lượng cao qua thông mũi ở bệnh nhân HSTC

  • Tác giả:JOSHUA IOKEPA SANTOS AND JASON C.BRAINARD
  • Chuyên ngành:HỒI SỨC CẤP CỨU
  • Nhà xuất bản:BS. ĐẶNG THANH TUẤN – BV NHI ĐỒNG 1( DỊCH)
  • Năm xuất bản:2020

GIỚI THIỆU

Hỗ trợ hô hấp không xâm lấn (NIRS, noninvasive respiratory support) liên quan đến việc áp dụng áp lực dương lên đường thở thông qua giao diện như mặt nạ, mặt nạ mũi, mũ bảo hiểm hoặc thiết bị mũi lưu lượng cao – không cần dụng cụ đặt vào thanh quản. Thông khí không xâm lấn (áp lực dương) (NIV, Noninvasive ventilation) là một liệu pháp lâu dài đối với suy hô hấp do bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD, chronic obstructive pulmonary disease) (Hộp 7.1). Áp lực đường thở dương liên tục (CPAP, Continuous positive airway pressure), không bao gồm lưu lượng bổ sung trong hít vào, được sử dụng để điều trị chứng ngưng thở khi ngủ tắc nghẽn, thiếu oxy sau phẫu thuật và phù phổi cấp tính.1,2 thở lưu lượng cao qua ống thông mũi (HFNC, High-flow nasal cannula), áp dụng lưu lượng oxy cao đến khoang mũi và hầu họng, cải thiện oxy hóa một phần do mức độ CPAP thấp và thông khí, do rửa trôi khoảng chết, hiện đang được sử dụng rộng rãi để điều trị mức độ thiếu oxy và tăng CO2 máu vừa phải.

PHƯƠNG PHÁP CUNG CẤP HỖ TRỢ HÔ HẤP KHÔNG XÂM LẤN

Có hai cách tiếp cận chính đối với NIRS cơ học: CPAP và NIV. Loại thứ hai thường liên quan đến một số hình thức hỗ trợ áp lực hạn chế trong hít vào, chẳng hạn như thông khí hỗ trợ áp lực (pressure support ventilation), nhưng có thể liên quan đến kiểm soát hỗ trợ (assist-control), thông khí bắt buộc ngắt quãng đồng bộ (synchronized intermittent mandatory ventilation) hoặc bất kỳ chế độ, mục tiêu thể tích hoặc áp lực nào khác, có thể được cung cấp không xâm lấn. BiPAP, một thuật ngữ độc quyền, thường được sử dụng không chính xác và có thể thay thế được với NIV, nhưng trên thực tế đề cập đến một chế độ duy nhất trên máy thở không xâm lấn của máy thở Respironics/Philips.

CPAP là áp lực đường thở liên tục được cung cấp cho bệnh nhân trong cả quá trình hít vào và thở ra, thường là qua mặt nạ khít chặt hoặc mũ bảo hiểm. Nó có chức năng chủ yếu là nong đường dẫn khí trên và giữ phế nang mở, ngăn ngừa xẹp phổi theo chu kỳ và cải thiện quá trình oxy hóa. Không có lưu lượng bổ sung trong thì hít vào, nhưng lưu lượng nền cao và điều này có thể làm giảm công thở. CPAP được sử dụng lâu dài để điều trị chứng ngưng thở khi ngủ tắc nghẽn và điều trị dứt điểm tình trạng thiếu oxy sau phẫu thuật (đảo ngược tình trạng xẹp phổi) và trong điều trị suy thất trái cấp tính. 

NIV được sử dụng trong một tình huống lâm sàng, thường gặp nhất là các đợt cấp của bệnh COPD. Chế độ được sử dụng phổ biến nhất của NIV tương tự như thông khí hỗ trợ áp lực. Ví dụ, trong áp lực đường thở dương hai mức (BiPAP, bilevel positive airway pressure), máy thở sẽ chuyển từ áp lực đường thở dương thì thở ra (EPAP, expiratory positive airway pressure) sang áp lực đường thở dương thì hít vào (IPAP, inspiratory positive airway pressure), là kiểu thở nhắm mục tiêu áp lực và chu kỳ lưu lượng. IPAP có thể được cung cấp mà không cần EPAP, đặc biệt ở những bệnh nhân mắc bệnh khí phế thũng nặng. Tất cả các máy thở không xâm lấn hiện đại có thể cung cấp hơi thở bắt buộc và hỗ trợ, tương tự như thông khí điều khiển thể tích hoặc hỗ trợ áp lực. Điều này được sử dụng rộng rãi cho những bệnh nhân mắc các bệnh thần kinh cơ giai đoạn cuối như bệnh thần kinh vận động (bệnh xơ cứng teo cơ cột bên), loạn trương lực cơ và bệnh đa xơ cứng mà bệnh nhân có thể không kích hoạt được máy thở.

LỰA CHỌN BỆNH NHÂN ĐỂ HỖ TRỢ HÔ HẤP KHÔNG XÂM LẤN

Câu hỏi đầu tiên cần được giải quyết khi lựa chọn bệnh nhân cho NIRS là liệu bệnh nhân có cần hỗ trợ thở máy hay không. Những bệnh nhân này thường bị suy hô hấp từ trung bình đến nặng, có dấu hiệu tăng công thở, như thở nhanh, tăng sử dụng các cơ hô hấp phụ, hoặc thở bụng nghịch chiều. Nên lấy khí máu động mạch (ABG) trước khi bắt đầu NIV để đánh giá mức độ nghiêm trọng của khí máu, đặc biệt là PaCO2, và để thiết lập đường nền để so sánh sau 1-2 giờ đầu tiên. Phản hồi tại điểm thời gian 1-2 giờ có tính dự đoán cao về kết quả tiếp theo; bệnh nhân cải thiện vào thời điểm này có khả năng thành công, nhưng những bệnh nhân không cải thiện có khả năng thất bại và cần đặt ống nội khí quản và thông khí xâm lấn hoặc chăm sóc giảm nhẹ. Các yếu tố rủi ro thất bại sau 2 giờ của NIV được liệt kê trong Hộp 7.2.1

CHỐNG CHỈ ĐỊNH HỖ TRỢ HÔ HẤP KHÔNG XÂM LẤN

HỘP 7.1 Chỉ định thông khí không xâm lấn ở bệnh nhân bệnh nặng.

Bằng chứng tốt nhất/trị liệu đầu tay:

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (đợt cấp tính và sớm sau rút ống)

Phù phổi cấp

Bằng chứng hỗ trợ vừa phải:

Viêm phổi

Tình trạng suy giảm miễn dịch

Preoxygenation để đặt nội khí quản

Suy hô hấp sau phẫu thuật

Giảm thông khí do béo phì

Bệnh thần kinh cơ

Chăm sóc giảm nhẹ

Bệnh phổi kẽ

Bằng chứng mâu thuẫn/ảnh hưởng xấu:

Chấn thương phổi cấp tính và ARDS

Suy hô hấp sau rút nội khí quản

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

Gửi bình luận

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Exit mobile version
Trang Chủ