ĐỊNH NGHĨA:
Ngày nay, nhiều kỹ thuật y học hiện đại nh các kỹ thuật ELISA, PCR, CT-scaner… đã được nghiên cứu làm cho chẩn đoán bệnh VMN do lao đợc chính xác hơn.
DỊCH TỄ HỌC
Các đặc điểm dịch tễ học VMN lao giống như đặc điểm bệnh lao nói chung.
Mầm bệnh
Trực khuẩn lao (Mycobacterium tuberculosis) do Robert Koch xác định lần đầu năm 1882. Do vậy, trực khuẩn lao còn được gọi là BK (Bacille de Koch). Đây là vi khuẩn có cấu trúc tương đối phức tạp và hoàn hảo. Trực khuẩn lao khó bắt màu bằng các thuốc nhuộm thông thường mà phải sử dụng phương pháp nhuộm Ziehl – Neelsen. Trên tiêu bản nhuộm Ziehl – Neelsen, trực khuẩn không bị cồn và axit làm mất màu đỏ của fucsin, nên được gọi là “trực khuẩn kháng cồn, kháng toan”.
Trực khuẩn lao là vi khuẩn ái khí, không mọc ở môi trường thông thường mà phải nuôi cấy ở môi trường giầu chất dinh dưỡng (môi trường Lošwenstein). Vi khuẩn phát triển chậm nên ứng dụng nuôi cấy vi khuẩn để chẩn đoán ít có ý nghĩa. Trong điều kiện tự nhiên, BK có thể tồn tại 3-4 tháng. Trong tổ chức lao, BK có thể tồn tại dai dẳng trong nhiều năm và khi có điều kiện thuận lợi, nó lại phát triển.
Hiện nay đã có nhiều thông báo về tình trạng kháng thuốc chống lao của BK. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, từ năm 1999 đến 2002, có khoảng 10% các trường hợp lao đã kháng với một hoặc nhiều loại thuốc chống lao (đa kháng thuốc) và gây nên khó khăn trong điều trị lao.
Nguồn bệnh
Giống như lao phổi, nguồn bệnh là bệnh nhân lao có BK trong đờm.
Đường lây
Giống như lao phổi, bệnh lây bằng đường hô hấp, theo hai cách:
Lây trực tiếp: BK ở trong nước bọt, mảnh đờm nhỏ của bệnh nhân lao bắn ra khi ho và người lành trực tiếp hít phải.
Lây gián tiếp: Hít phải BK mà bệnh nhân lao khạc ra trong bụi không khí.
Cơ thể cảm thụ
Mọi lứa tuổi đều có thể bị bệnh, nhưng thường ở trẻ em, thanh niên và trung niên tỷ lệ mắc bệnh nhiều hơn. Hiện nay, người lớn xu hướng mắc bệnh cao. Tỷ lệ mắc VMN lao ở nước ta xấp xỉ 0,75/100.000 dân.
LÂM SÀNG
Đặc điểm lâm sàng của VMN lao
Thời kỳ khởi phát: Khởi phát VMN lao thường đa dạng, tuy nhiên có đặc điểm chung sau:
Bệnh thường khởi phát từ từ, kéo dài vài tuần với các biểu hiện của hội chứng nhiễm độc lao như sốt nhẹ về chiều và tối, mệt mỏi, ăn ngủ kém, gầy sút cân, ra mồ hôi trộm, da xanh…
Kèm theo, có thể có các dấu hiệu về thần kinh, lúc đầu thường nhẹ, thoáng qua và tăng dần: nhức đầu, buồn nôn, mất ngủ, thay đổi tính tình, đôi khi bại nhẹ thoáng qua hoặc co giật cục bộ… Trẻ em thường hay bỏ ăn, bỏ chơi, hay buồn ngủ…
Một số trường hợp khởi phát đột ngột, không điển hình với các biểu hiện: Loạn thần, co giật, sốt cao liên tục, có hội chứng màng não rõ từ đầu… Tuy nhiên, những trường hợp này thường là do không được theo dõi kỹ từ đầu, khi phát hiện ra bệnh đã ở giai đoạn nặng.
Thời kỳ toàn phát
Hội chứng nhiễm khuẩn – nhiễm độc: Biểu hiện sốt thường đa dạng, có thể sốt nhẹ về chiều hoặc là sốt cao liên tục, sốt dao động… kèm theo các biểu hiện nhiễm độc lao rõ và cơ thể gầy yếu, suy kiệt nhanh.
Hội chứng màng não: Xuất hiện từ từ, ngày một rõ và đầy đủ hơn. Nhức đầu âm ỉ thường xuyên, đôi khi nhức đầu dữ dội. Có triệu chứng tăng kích thích, sợ ánh sáng, tăng trương lực cơ… Khám thấy dấu hiệu màng não (+).
Các triệu chứng tổn thương thần kinh khu trú: hay gặp nhất là hội chứng nền, biểu hiện bằng các triệu chứng tổn thương các dây thần kinh sọ não vùng nền não, nhất là các dây II, III, IV, VI, VII, VIII…. Nặng hơn có thể thấy tổn thương các dây IX, X, XI… hoặc liệt nửa người, liệt tứ chi…
Nếu không được điều trị kịp thời, sẽ có rối loạn ý thức, bán hôn mê, hôn mê và tử vong.
Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung
Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ