ThS.BS. Huỳnh Tiểu Niệm
ĐỊNH NGHĨA
Viêm màng não mủ (VMNM) là tình trạng viêm các màng nhện, màng nuôi và dịch trong khoang dưới nhện do vi trùng sinh mủ gây nên. Hiện tượng viêm được chứng minh bằng sự hiện diện của một số lớn bạch cầu đa nhân trung tính trong dịch não tủy (DNT). Ở trẻ em, đặc biệt là sơ sinh và nhũ nhi, bệnh cảnh lâm sàng thường không điển hình như ở người lớn và bệnh có thể diễn tiến nhanh chóng đến tổn thương não gây tử vong hoặc di chứng thần kinh nặng nề.
SINH LÝ BỆNH HỌC
Trong bệnh VMNM, ổ nhiễm trùng nguyên phát thường là ở vùng mũi họng. Từ đó vi trùng vào máu dẫn đến tình trạng du khuẩn huyết rồi xâm nhập vào màng não và khoang dưới nhện gây bệnh cảnh VMNM.
Phản ứng viêm ở màng não gây tăng tính thấm hàng rào máu não và làm thoát nhiều chất từ máu vào DNT như albumin, tế bào bạch cầu lympho và đa nhân trung tính, các chất điện giải…Phản ứng viêm còn gây viêm tắc mạch máu ở não – màng não, gây tăng đông, phù não, tăng áp lực nội sọ và giảm tưới máu não…góp phần dẫn đến tử vong hoặc di chứng thần kinh nặng nề.
Phản ứng viêm cũng có thể gây phù mô kẽ ở tổ chức não, tăng tính kháng lưu thông của DNT và máu do có sự xâm nhập của bạch cầu với số lượng lớn, phá hủy tổ chức do giảm tưới máu.
Ngoài nguyên nhân phù não do phản ứng viêm, bệnh nhi VMNM có thể phù não do hạ natri máu trầm trọng. Hạ natri máu trong bệnh VMNM có thể do giảm cung cấp, tăng tiết ADH không thích hợp, hội chứng mất muối do não, truyền dịch quá mức.
Khi bệnh nhi VMNM được điều trị muộn hoặc điều trị không đáp ứng thì vi trùng từ khoang dưới nhện sẽ lan tỏa vào máu gây nhiễm trùng huyết với bệnh cảnh tổn thương đa cơ quan. Trong trường hợp này, vi trùng sẽ xâm nhập vào nhu mô não và gây nên một số biến chứng nặng nề của bệnh VMNM.
TÁC NHÂN GÂY BỆNH
Theo lứa tuổi
Từ 0 đến 3 tháng: các loại trực khuẩn gram âm đường ruột (đặc biệt là E. coli), Streptococci nhóm B và Listeria monocytogenes.
Từ 3 tháng đến 6 tuổi: Haemophilus influenzae nhóm B, Streptococcus pneumoniae và Neisseria menigitidis.
Từ 6 tháng đến 15 tuổi: Streptococcus pneumoniae và Neisseria menigitidis.
Theo cơ địa
Bệnh hồng cầu hình liềm, bệnh nhi đã cắt lách: Haemophilus influenzae nhóm B, Streptococcus pneumoniae, vi trùng gram âm.
Thiếu bổ thể C5, C6: Neisseria menigitidis.
Thiếu Lympho T, AIDS, bệnh Hodgkin: Listeria monocytogenes.
Viêm xoang: Streptococcus pneumoniae, Staphylococcus aureus, Streptococcus tan huyết nhóm A.
Viêm tai giữa: Streptococcus pneumoniae, Haemophilus influenzae nhóm B, Streptococcus tan huyết nhóm A.
Phẫu thuật ngoại thần kinh: Staphylococcus aureus, Staphylococcus epidermidis, trực khuẩn gram âm.
TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG
Biểu hiện lâm sàng bệnh VMNM ở trẻ em rất đa dạng và thay đổi tùy theo lứa tuổi, thời gian trước khi nhập viện và phản ứng của từng bệnh nhi đối với tình trạng nhiễm trùng.
Hỏi bệnh sử – tiền sử
Sốt: sốt cao, trẻ sơ sinh có thể sốt nhẹ hoặc vừa, có thể hạ thân nhiệt trong những trường hợp nặng.
Nôn ói mọi thứ: trẻ lớn có thể nôn vọt, trẻ sơ sinh và nhũ nhi có thể bú kém hoặc bỏ bú, ọc sữa, bụng chướng.
Co giật: thường co giật toàn thân xảy ra trước nhập viện hoặc trong vòng 48 giờ sau nhập viện. Co giật xảy ra muộn thường khu trú và gợi ý tổn thương não.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ