ĐẠI CƯƠNG
Phù phổi cấp là tình trạng ứ dịch ở khoảng kẽ và phế nang dẫn đến rối loạn trao đổi khí phế nang – mao mạch phổi và gây nên tình trạng suy hô hấp cấp trên lâm sàng.
Phù phổi cấp huyết động là hậu quả của nhiều bệnh tim mạch (tăng huyết áp, hẹp hai lá, nhồi máu cơ tim các rối loạn nhịp nhanh…) đây là một cấp cứu nội khoa đòi hỏi phải được phát hiện sớm và xử lý chính xác, hợp lý nếu không người bệnh có nguy cơ tử vong cao.
CHẨN ĐOÁN
Lâm sàng
Cơn phù phổi cấp thường xuất hiện đột ngột và tiến triển nhanh.
Cơn khó thở đột ngột xuất hiện ngày càng tăng làm người bệnh hoảng hốt, vã mồ hôi, nghẹt thở, nhiều người có cảm giác như sắp chết.
Bệnh nhân thường thở nhanh tần số thở 30-40 chu kỳ/phút, phải ngồi để thở, tím môi và đầu chi, trường hợp nặng có thể thấy khạc ra bọt hồng.
Nhịp tim thường nhanh 100-150 chu kỳ/phút, tuỳ theo tình trạng bệnh tim cụ thế mà có thể nghe thấy các tiếng tim bệnh lý khác nhau (rung nhĩ, rung tâm trương nếu có hẹp van hai lá, hoặc tiếng ngựa phi nếu có bệnh cơ tim hay nhồi máu cơ tim vv…).
Nghe phổi thường gặp ran ẩm ở hai đáy phổi. Trường hợp điển hình có thể thấy ran ẩm ỏ’ đáy phổi dâng lên như sóng triều (hiếm gặp).
Đo huyết áp có thế bình thường hoặc tăng. Tuy nhiên khi suy hô hấp xuất hiện bệnh nhân có thể tụt huyết áp, rối loạn ý thức…
Các xét nghiệm thăm dò
Chụp Xquang tỉm phổi
Có thể thấy hình ảnh của bệnh tim thực tổn (hình tim hẹp hai lá hay tăng huyết áp…).
Có thế gặp hình ảnh mờ lan toả từ rốn phối lan sang hai bên (hình cánh bướm).
Điện tâm đồ
Có thể thấy các biểu hiện của bệnh tim thực tốn (nhồi máu cơ tim, dày nhĩ trái, dày thất phải của hẹp van hai lá, hay dày thất trái tron tăng huyết áp vv…)
Siêu âm tim
Cỏ thể giúp phát hiện các tốn thương của van hai lá, van động mạch chủ, bệnh cơ tim hay nhồi máu cơ tim…
Các xét nghiệm máu
Khí máu
Trong giai đoạn sớm, P02 và PC02 đều giảm, khi bệnh tiến triển nặng hơn P02 giảm trong khi PC02 lại tăng. Khi P02 giảm < 50 mmHg, PC02 tăng > 50 mmHg thì đặt nội khí quản và thở máy là cần thiết.
Các xét nghiệm sinh hoả (CK, CKMB, ure, creatinin, điện giải..), huyết học (công thức máu, tốc độ lắng máu…), đông máu cũng rất có ích trong việc đánh giá tình trạng chung cũng như tình trạng bệnh tim mạch của bệnh nhân..
Thăm dò huyết động
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ