ĐỊNH NGHĨA
Tăng huyết áp là khi huyết áp tâm thu > 140mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương > 90mmHg hoặc khi đang được điều trị bằng một thuốc hạ huyết áp.
NGUYÊN NHÂN
Phần lớn tăng huyết áp (THA) ở người trưởng thành là không rõ nguyên nhân (THA nguyên phát), chỉ có khoảng 10% các trường hợp là có nguyên nhân (THA thứ phát, xem Phụ lục 1- Nguyên nhân gây THA thứ phát, các yếu tố nguy cơ tim mạch, biến chứng & tổn thương cơ quan đích do THA)
CHẨN ĐOÁN
Chẩn đoán xác định THA: dựa vào trị số huyết áp đo được sau khi đo huyết áp đúng quy trình (xem Phụ lục 2- Quy trình đo huyết áp). Ngưỡng chẩn đoán THA thay đồi tùy theo từng cách đo huyết áp (Bảng 1).
Bảng Các ngưỡng chẩn đoán tăng huyết áp theo từng cách đo
| Huyết áp tâm thu | Huyết áp tâm
trương |
||
| Cán bộ y tế đo theo đúng quy trình | > 140 mmHg | và/hoặc | > 90 mmHg |
| 2. Đo bằng máy đo HA tự động 24 giờ (Trung bình 24 giờ) | > 130 mmHg | > 80 mmHg | |
| 3. Tự đo tại nhà (đo nhiều lần) | > 135 mmHg | > 85 miĩìHg |
Phân độ THA: dựa vào trị số huyết áp do cán bộ y tế đo được (xem Bảng 2).
Bảng 2. Phân độ huyết áp
| Phân độ huyết áp | Huyết áp tâm thu
(mmBg) |
Huyết áp tâm trương (mmHg) | |
| Huyết áp tối ưu | < 120 | và | <80 |
| Huyết áp bình thường | 120-129 | và | 80-84 |
| Tiền tăng huyết áp | 130-139 | và/hoặc | 85-89 |
| Tăng huyết áp độ 1 | 140-159 | và/hoặc | 90-99 |
| Tăng huyết áp độ 2 | 160- 179 | và/hoặc | 100 – 109 |
| Tăng huyết áp độ 3 | > 180 | và/hoặc | > 110 |
| Tăng huyết áp tâm thu đơn độc | > 140 | và | <90 |
Neu huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương không cùng mức phân độ thì chọn huyết áp ở mức cao hơn đế xếp loại. THA tâm thu đơn độc cũng được phân độ theo các mức biến động của huyết áp tâm thu.
Phân tầng nguy cơ tim mạch: dựa vào phân độ huyết áp, số lượng các yếu tố nguy cơ tim mạch (YTNCTM) và biến cố tim mạch (xem Bảng 3- Phân tầng nguy cơ tim mạch) để có chiến lược quản lý, theo dõi và điều trị lâu dài.
ĐIỀU TRỊ
Nguyên tắc chung:
Tăng huyết áp là bệnh mạn tính nên cần theo dõi đều, điều trị đúng và đủ hàng ngày, điều trị lâu dài. Điều trị Cần phải cân nhắc riêng cho từng cá thế người bệnh trên cơ sở lợi ích lâu dài, lợi ích trước mắt, các tác dụng phụ và giá thành lâu dài của điều trị trên cơ sở đánh giá toàn diện con số huyết áp, các yếu tố nguy cơ, tổn thuơng cơ quan đích và các bệnh lý mạn tính kèm theo.
Mục tiêu điều trị là đạt “huyết áp mục tiêu” và giảm tối đa “nguy cơ tim mạch”.
+ “Huyết áp mục tiêu” cần đạt đối với đa số bệnh nhân là < 140/90mmHg.
+ Đối với bệnh nhân có bệnh đái tháo đường, huyết áp mục tiêu cần đạt là < 140/85mmHg.
+ Đối với người già mức huyết áp tâm thu mục tiêu có thể chỉ cần đạt từ 140 – 150 mmHg
Mặc dù so đo huyết áp tâm thu càng thấp thì tỷ lệ biến cổ tim mạch cũng như biến cố trên cơ quan đích càng thấp song hạ huyết áp tích cực xuống thấp nữa so với huyết áp mục tiêu chỉ có lợi trong việc ngăn ngừa biến cổ TBMMN và hạn chế tiến triển của protein niệu hoặc suy thận, trong khi không cải thiện tỷ lệ tử vong chung, thậm chí có thế làm tăng tỷ lệ tử vong do tim mạch liên quan đến NMCT hoặc nhập viện do suy tim ở bệnh nhân có bệnh mạch vành (đường cong J: tỷ lệ biến cố giảm khi hạ huyết áp, song sẽ tăng trở lại nếu hạ huyết áp quá mức) đồng thời làm tăng số lượng thuốc, chi phỉ điều trị cần phải dùng, tăng nguy cơ xuất hiện biến cố ngoại ỷ và giảm dung nạp với điều trị. Do vậy ngưỡng huyết áp mục tiêu hạ xuống thấp tích cực hơn nữa chỉ nên cân nhắc đoi với nhóm bệnh nhân trẻ tuổi khi gánh nặng điều trị không quá lớn.
Khi điều trị đã đạt huyết áp mục tiêu, cần tiếp tuc duy trì phác đồ điều tri lâu dải kèm theo việc theo dõi chặt chẽ, định kỳ để điều chỉnh kịp thời.
Điều trị cần hết sức tích cực ở bệnh nhân đã có tốn thương cơ quan đích. Không nên hạ huyết áp quá nhanh đe tránh biến chứng thiếu máu ở các cơ quan đích, trừ tình huống cấp cứu.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ