ĐẠI CƯƠNG
Sốc tim là tình trạng giảm cung lượng tim không đáp ứng được nhu cầu oxy của các tổ chức trong cơ thể.
Chẩn đoán sốc tim đặt ra sau khi đã loại trừ các sốc khác: sốc giảm thể tích, sốc phản vệ, sốc nhiễm khuẩn.
Các rối loạn huyết động đặc trưng trong sốc tim:
Cung lượng tim giảm với chỉ số tim < 2,2 lít/phút/m2.
Áp lực tĩnh mạch trung tâm cao ( > 10 mmHg) và áp lực mao mạch phổi bít cao ( > 15mmHg).
Chênh lệch oxy giữa máu mao mạch và máu tĩnh mạch cao (DA-VO2 lớn hơn 0,55ml O2/lít) do rối loạn trong sốc tim là do tổn thương chức năng tim không phải do rối loạn ở ngoại vi.
Trong điều trị sốc tim: một mặt khẩn trương điều trị triệu chứng và hồi sức toàn diện, mặt khác cần tìm và giải quyết nguyên nhân sớm nếu có thể được.
Suy tim trong bệnh cảnh sốc tim là vấn đề lâm sàng lớn bởi vì tỉ lệ tử vong cao lên tới 30 –90%. Tiên lượng phụ thuộc nhiều vào nguyên nhân gây ra sốc tim và khả năng can thiệp của thầy thuốc.
Đây là tình trạng cần được cấp cứu tại chỗ và vận chuyển bằng xe ôtô có trang thiết bị cấp cứu ban đầu đến khoa hồi sức.
NGUYÊN NHÂN
Giảm sức co bóp cơ tim
Thiếu máu cục bộ cơ tim (đặc biệt là nhồi máu cơ tim cấp).
Bệnh cơ tim do nhiễm khuẩn (liên cầu nhóm B, bệnh Chagas,…), nhiễm vi rút (enterovirus, adenovirus, HIV, vi rút viêm gan C, parvovirus B19, vi rút Herpes, EBV, CMV).
Bệnh cơ tim do miễn dịch, do chuyển hóa.
Bệnh cơ tim do nguyên nhân nội tiết: cường hoặc suy giáp.
Bệnh cơ tim do ngộ độc.
Giai đoạn cuối của bệnh cơ tim giãn hay bệnh van tim.
Tăng hậu gánh (nguyên nhân tắc nghẽn)
Tắc động mạch phổi nặng.
Hẹp động mạch chủ.
Ép tim cấp do tràn dịch màng ngoài tim cấp
Tổn thương cơ học của tim
Hở van động mạch chủ, hở van hai lá cấp.
Thủng vách liên thất.
Rối loạn nhịp tim
Cơn nhịp nhanh, đặc biệt là cơn nhịp nhanh thất hoặc nhịp quá chậm do bloc nhĩ thất.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ