Một bé gái 4 tuổi khỏe mạnh được đưa đến khoa cấp cứu vì sốt và li bì tiến triển. Theo mẹ của trẻ, con gái bà đã nôn sau mỗi bữa ăn trong 3 ngày qua và hôm nay đã đi ngoài phân lỏng, không có máu 5 lần. Người mẹ cũng cho biết hôm qua trẻ chỉ uống 200 mL nước trái cây và nước lọc, còn hôm nay chỉ uống bằng một nửa lượng đó. Trẻ mới chỉ đi tiểu một lần trong ngày hôm nay. Khi nhập viện, trẻ trông có vẻ nhiễm độc với thời gian làm đầy mao mạch chậm, ánh mắt đờ đẫn, thở nhanh (28 lần/phút) và nhịp tim nhanh (145 nhịp/phút). Nhiệt độ của trẻ là 39°C và huyết áp (BP) là 80/30 mm Hg. Trẻ có cảm giác đau lan tỏa vùng bụng và không có ban đỏ. Chẩn đoán sốc nhiễm trùng (Septic shock) đã được đưa ra và liệu pháp kháng sinh bao gồm gentamicin, vancomycin và amoxicillin được bắt đầu sau khi hồi sức dịch ban đầu. Que thử nước tiểu cho thấy pH 7.0, tỷ trọng 1.010, máu 1+ và không có protein. Hiện tại bạn đang lo ngại về tổn thương thận cấp (Acute kidney injury – AKI) thứ phát do trụy tuần hoàn.

Câu hỏi: MỘT xét nghiệm nào sau đây là dấu ấn sinh học niệu nhạy nhất để phát hiện sớm tổn thương thận cấp (chọn tất cả các đáp án phù hợp)?

A. Creatinine huyết thanh.

B. Mức lọc cầu thận ước tính (eGFR).

C. Phân tử tổn thương thận (Kidney injury molecule – KIM-1).

D. Lipocalin gắn với gelatinase của bạch cầu trung tính (Neutrophil gelatinase-associated lipocalin – NGAL).

Đáp án đúng là A

Bình luận: Một nghiên cứu cắt ngang tiến cứu gần đây đã kiểm tra một nhóm gồm ba dấu ấn sinh học AKI hứa hẹn nhất, bao gồm IL-28, NGAL và KIM-1, ở 86 trẻ em từ 7 tháng đến 24 tuổi bị trụy tuần hoàn. Kết quả nghiên cứu kết luận rằng trong nhóm ba dấu ấn sinh học tiềm năng, KIM-1 đã chứng minh hiệu suất tốt nhất trong việc dự đoán AKI trước khi sự thay đổi của creatinine huyết thanh hoặc eGFR trở nên rõ ràng.

Ca Lâm Sàng 2

Một bé trai 2 tuổi nhập viện với tình trạng hạ đường huyết. Huyết áp của trẻ là 105/68 mm Hg, nhịp tim 98 nhịp/phút và nhịp thở 29 lần/phút. Trẻ không sốt. Sự tăng trưởng và phát triển của trẻ bình thường. Trẻ không có bằng chứng lâm sàng về mất nước. Điện giải đồ huyết thanh lúc nhập viện (mEq/L) cho thấy natri 142, kali 5.6, chloride (Cl) 98, CO2 12 mEq/L, glucose 58 mg/dL (3.2 mmol/L), nitơ urea máu (Blood urea nitrogen – BUN) 19 mg/dL (6.8 mmol/L) và creatinine 1.2 mg/dL (106 mmol/L). pH khí máu động mạch là 7.24 và PCO2 là 15 mm Hg. Ceton huyết thanh đo bằng que thử ketosis cho phản ứng 3+. Kết quả phân tích nước tiểu cho thấy pH 5.0, tỷ trọng 1.018, không có máu hoặc protein. Người bệnh (Patient) đáp ứng tốt với liệu pháp truyền dịch. Sau khi điều chỉnh các bất thường về điện giải, creatinine huyết thanh của trẻ giảm xuống 0.4 mg/dL (35 mmol/L), pH máu tăng lên 7.40, glucose máu là 105 mg/dL (5.8 mmol/L) và huyết thanh không còn ceton.

Câu hỏi: Lời giải thích nào hợp lý nhất cho sự giảm đồng thời của nồng độ creatinine huyết thanh và ceton huyết thanh sau khi điều chỉnh hạ đường huyết (chọn tất cả các đáp án phù hợp)?

A. Tăng azote máu trước thận (Prerenal azotemia).

B. Tổn thương thận cấp (AKI).

C. Creatinine huyết thanh tăng cao giả tạo.

D. Sai sót phòng xét nghiệm.

 

Đáp án đúng là C

Bình luận: Các giá trị creatinine cao giả tạo đã được báo cáo trước đây khi sử dụng phản ứng Jaffe để xác định creatinine (lựa chọn C). Sự tăng giả tạo nồng độ creatinine huyết thanh không gặp trong nhiễm toan lactic nếu không có ketosis. Do đó, khi có toan chuyển hóa tăng khoảng trống anion kèm theo tình trạng tăng ketosis, nồng độ creatinine huyết thanh cao được đo bằng phương pháp Jaffe cần được phiên giải thận trọng và không nên được coi là xác định của rối loạn chức năng thận.

Ca Lâm Sàng 3