Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

CÁC NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA Y HỌC GIẤC NGỦ, ẤN BẢN THỨ 2 (2026). Chương 6: Cấu trúc Giấc ngủ Bình thường ở Người lớn

56 phút đọc

CÁC NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA Y HỌC GIẤC NGỦ, ẤN BẢN THỨ 2 (2026)
(Fundamentals of Sleep Medicine, 2nd Edition)
Tác giả: Richard B. Berry, Mary H. Wagner và Scott M. Ryals.
Dịch & chú giải: THS.BS. LÊ ĐÌNH SÁNG. Xuất bản trực tuyến bởi THƯ VIỆN Y HỌC MEDIPHARM vì mục đích lan toả tri thức, hoàn toàn phi lợi nhuận. NGHIÊM CẤM thương mại hoá bản dịch này dưới bất kỳ hình thức nào.


Chương 6: Cấu trúc Giấc ngủ Bình thường ở Người lớn

Normal sleep architecture in adults
Richard B. Berry, MD, FAASM; Mary H. Wagner, MD, FAASM; Scott M. Ryals, MD, FAASM

Fundamentals of Sleep Medicine, Chapter 6, 85-99


THUẬT NGỮ VỀ CẤU TRÚC GIẤC NGỦ

Các báo cáo đa ký giấc ngủ (polysomnography – PSG) thường bao gồm một số thông số liên quan đến số lượng và chất lượng giấc ngủ (Bảng 6-1; Hình 6-1). Thông thường, hệ thống bắt đầu ghi dữ liệu đa ký giấc ngủ trước khi tắt đèn để xác minh rằng các điện cực và thiết bị theo dõi đang cung cấp tín hiệu đạt yêu cầu. Ngoài ra, kỹ thuật viên cũng ghi lại các bước hiệu chuẩn và hiệu chuẩn sinh học (biocalibrations) như Chương 2 đã mô tả. Thời gian tắt đèn (lights out time) là thời điểm người bệnh (patient) được phép chìm vào giấc ngủ và đánh dấu sự bắt đầu của phần dữ liệu sẽ trải qua quá trình phân độ và phân tích. Thời gian bật đèn (lights on time) là thời điểm chấm dứt việc phân tích bản ghi giấc ngủ. Tuy nhiên, hầu hết các trung tâm giấc ngủ vẫn tiếp tục ghi dữ liệu thực tế cho đến khi kỹ thuật viên tháo các điện cực và thiết bị theo dõi (bao gồm cả bước hiệu chuẩn sinh học ở cuối quá trình đo). Tổng thời gian ghi (total recording time – TRT) là khoảng thời gian từ lúc tắt đèn đến lúc bật đèn. Đôi khi, giới chuyên môn gọi TRT là thời gian trên giường (time in bed – TIB). Thời gian tiềm thời giấc ngủ (sleep latency) là khoảng thời gian tính từ lúc tắt đèn đến khi bắt đầu thời đoạn (epoch) ngủ đầu tiên.

Theo định nghĩa của Sổ tay Hướng dẫn Chấm điểm Giấc ngủ và các Sự kiện Liên quan của Viện Hàn lâm Y học Giấc ngủ Hoa Kỳ: Quy tắc, Thuật ngữ và Thông số Kỹ thuật (AASM Manual for the Scoring of Sleep and Associated Events: Rules, Terminology and Technical Specifications – sau đây gọi tắt là Sổ tay chấm điểm AASM), thời gian thức sau khi bắt đầu ngủ (wake after sleep onset – WASO) bao gồm toàn bộ giai đoạn W (thức) tính từ lúc bắt đầu ngủ (từ lúc bắt đầu thời đoạn ngủ đầu tiên) cho đến khi bật đèn. WASO cũng bao gồm cả thời gian thức nhưng ra khỏi giường trong khoảng thời gian từ lúc bắt đầu ngủ đến khi bật đèn. Tổng lượng thời gian của giai đoạn W (trong suốt TRT) = thời gian tiềm thời giấc ngủ + WASO. Nghĩa là, TRT = thời gian tiềm thời giấc ngủ + WASO + TST. Thời gian tiềm thời của giấc ngủ có chuyển động mắt nhanh (rapid eye movement latency – REM latency) là khoảng thời gian tính từ lúc bắt đầu ngủ cho đến khi xuất hiện thời đoạn đầu tiên của giai đoạn R (REM). Tổng thời gian ngủ (total sleep time – TST) là tổng số phút người bệnh trải qua trong các giai đoạn của giấc ngủ (N1, N2, N3, R). Chúng ta tính hiệu quả giấc ngủ (sleep efficiency – SE, tính bằng %) bằng công thức: (TST tính bằng phút / TRT tính bằng phút) x 100. Sổ tay chấm điểm AASM cũng khuyến nghị trình bày thời lượng của các giai đoạn giấc ngủ dưới dạng cả thời lượng tuyệt đối lẫn tỷ lệ phần trăm so với TST. Thuật ngữ chỉ các giai đoạn giấc ngủ đã thay đổi từ 1, 2, 3, 4 và REM trong sổ tay của Rechtschaffen và Kales (R&K) thành N1, N2, N3 và R trong sổ tay chấm điểm AASM. Hai giai đoạn 3 và 4 gộp chung thành N3. Các giai đoạn N1, N2 và N3 cấu thành giấc ngủ không có chuyển động mắt nhanh (non-rapid eye movement – NREM) và để phục vụ cho việc phân độ, quy tắc mới gọi giấc ngủ REM là giai đoạn R. Mặc dù các thông số về cấu trúc giấc ngủ liệt kê trong Bảng 6-1 rất hữu ích, nhưng rõ ràng chúng không truyền tải được chi tiết về kiểu thức ngủ trong suốt cả đêm. Các biểu đồ giấc ngủ (hypnograms) có thể cung cấp rất nhiều thông tin, và nhiều trung tâm giấc ngủ đưa biểu đồ này vào báo cáo giấc ngủ của họ. Biểu đồ giấc ngủ là một biểu diễn đồ họa của các giai đoạn giấc ngủ theo thời gian thực (thời gian đồng hồ). Hệ thống gán giai đoạn W và mỗi giai đoạn của giấc ngủ cho các mức độ khác nhau (Hình 6-1). Trong hình này, thời gian tiềm thời giấc ngủ, thời gian tiềm thời REM và TRT hiện lên rất chi tiết. Biểu đồ giấc ngủ ở Hình 6-1 minh họa một giấc ngủ bình thường và cho thấy giấc ngủ diễn ra theo các chu kỳ NREM-REM, trong đó giai đoạn N3 chiếm đa số ở các chu kỳ ngủ đầu tiên. Khi đêm càng về khuya, lượng giai đoạn N3 giảm đi và giai đoạn R tăng lên.

Trước đây, một số bác sĩ lâm sàng sử dụng thuật ngữ “thời gian của chu kỳ ngủ” (sleep period time – SPT) (Hình 6-1), họ định nghĩa đây là khoảng thời gian từ lúc bắt đầu ngủ đến lần thức giấc cuối cùng. Nói cách khác, SPT là số phút tính từ thời đoạn đầu tiên cho đến thời đoạn cuối cùng đạt điểm là giai đoạn N1, N2, N3 hoặc R. Theo đó, thời lượng thức trong khoảng thời gian của chu kỳ ngủ (WASO_SPT) đại diện cho WASO. Có nghĩa là, WASO_SPT = SPT – TST, trong đó TST = tổng thời gian ngủ. Cách tính này cho phép biểu diễn WASO dưới dạng phần trăm của SPT. Sổ tay chấm điểm AASM sử dụng một định nghĩa khác về WASO và không sử dụng SPT như một thông số tiêu chuẩn. Tuy nhiên, một số lượng đáng kể các ấn phẩm nghiên cứu trước đây đã sử dụng SPT và WASO_SPT (trước đây chỉ ký hiệu là WASO), vì vậy người đọc nên làm quen với thuật ngữ này. Một số tác giả trước đây cũng trình bày các giai đoạn giấc ngủ dưới dạng phần trăm của SPT. Chỉ số thức giấc (arousal index – ArI) là số lần thức giấc nhân với 60 rồi chia cho TST tính bằng phút (tương đương số lần thức giấc/giờ ngủ).

Bảng 6-1. Các Thông số về Cấu trúc Giấc ngủ

Thông số Ví dụ Lâm sàng 1 (Nam 25 Tuổi) Ví dụ Lâm sàng 2 (Nam 65 Tuổi)
Thời gian tắt đèn 10:30 PM 10:30 PM
Thời gian bật đèn 6:00 AM 6:00 AM
Tổng thời gian ghi (TRT) (phút) 450 450
Tổng thời gian ngủ (TST) (phút) 430 390
Tiềm thời giấc ngủ (phút) 5 20
Tiềm thời REM (phút) 90 75
Hiệu quả giấc ngủ (%) 95 87
Giai đoạn W (phút) 20 60
Thức sau khi bắt đầu ngủ (WASO) (phút) 15 40
Các Giai đoạn Giấc ngủ (phút) / %TST (phút) / %TST
Giai đoạn N1 2.3 / 10 30 / 7.7
Giai đoạn N2 55.8 / 240 265 / 68
Giai đoạn N3 80 / 18.6 15 / 3.8
Giai đoạn R 100 / 23.2 80 / 20.5
Chỉ số Thức giấc (lần/giờ) 5 15

Chỉ số thức giấc = số lần thức giấc / giờ ngủ, xem phần văn bản để biết định nghĩa các thông số.

Hình 6-1. Một biểu đồ giấc ngủ (hypnogram) cho thấy kiểu ngủ bình thường ở một người trưởng thành trẻ tuổi. Thời gian từ lúc Tắt đèn (L out) đến lúc Bật đèn (L on) là khoảng thời gian kỹ thuật viên phân độ và phân tích giấc ngủ, gọi là TRT (tổng thời gian ghi). Hình ảnh mô tả Tiềm thời giấc ngủ (SL) và Tiềm thời REM (RL). Có bốn chu kỳ NREM/REM. Giai đoạn N3 giới hạn ở phần đầu của đêm và (A > B > C) cho thấy giai đoạn N3 dài nhất nằm ở chu kỳ đầu tiên. Các đợt giấc ngủ REM tăng dần thời lượng qua đêm với khoảng thời gian dài nhất thường rơi vào sáng sớm. Thời gian của chu kỳ ngủ (SPT) là khoảng thời gian từ lúc ngủ đầu tiên cho đến lần thức giấc cuối cùng. Các định nghĩa về các thông số cấu trúc giấc ngủ nằm bên dưới biểu đồ.

Báo cáo PSG thường bao gồm tổng số lần thức giấc và chỉ số ArI. Các thông số khác ít sử dụng hơn bao gồm số lần chuyển đổi giai đoạn giấc ngủ (sleep stage shifts), thời gian tiềm thời đến khi có giấc ngủ ổn định (latency to persistent sleep – tính từ lúc tắt đèn đến khoảng thời gian 10 phút đầu tiên chứa ít hơn 2 phút thức hoặc ngủ giai đoạn N1) và thời gian tiềm thời đến khi ngủ thực sự (latency to unequivocal sleep – thời gian từ lúc tắt đèn đến khi có ba thời đoạn liên tiếp của N1 hoặc một thời đoạn của giai đoạn N2, N3, hoặc R).

GIẤC NGỦ BÌNH THƯỜNG Ở NGƯỜI LỚN

Giấc ngủ diễn ra theo các chu kỳ, mỗi chu kỳ thường bao gồm một giai đoạn giấc ngủ NREM tiếp theo sau là một giai đoạn giấc ngủ REM. Ở người lớn, chu kỳ ngủ NREM/REM đầu tiên kéo dài từ 70 đến 100 phút, trong khi các chu kỳ ngủ sau đó có thời lượng từ 90 đến 120 phút. Trung bình cho toàn bộ đêm, chu kỳ NREM/REM thường vào khoảng 90 đến 110 phút. Một đêm thường có từ ba đến năm chu kỳ NREM-REM (Hộp 6-1). Hình 6-2 minh họa một đêm ngủ kém lý tưởng hơn, trái ngược với biểu đồ giấc ngủ ở Hình 6-1. Ở người bệnh này, thời gian tiềm thời giấc ngủ kéo dài, không có giấc ngủ REM trong chu kỳ ngủ đầu tiên, lượng giai đoạn N3 giảm và giai đoạn W tăng lên với chín lần thức giấc ngắn trong đêm.

HỘP 6-1. SỰ THẬT VỀ CẤU TRÚC GIẤC NGỦ (SLEEP ARCHITECTURE FACTS)

– Ba đến năm chu kỳ ngủ (NREM-REM) trong suốt đêm.

– Chu kỳ ngủ đầu tiên ≈ 70 đến 100 phút.

– Các chu kỳ ngủ sau đó ≈ 90 đến 120 phút.

Giai đoạn N3

+ Phần lớn giai đoạn N3 diễn ra vào nửa đầu của đêm.

+ Năng lượng sóng delta thường giảm dần sau mỗi chu kỳ NREM.

Giai đoạn R

+ Các đợt của giai đoạn R kéo dài hơn ở phần sau của đêm.

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Exit mobile version
Trang Chủ