Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Cẩm nang Chăm sóc tích cực của OH, ấn bản thứ 9, 2026. CHƯƠNG 103. BỎNG

44 phút đọc

Cẩm nang Chăm sóc tích cực của OH, ấn bản thứ 9, 2026. Chủ biên: Jonathan M. Handy, Bala Venkatesh. (C) 2026 NXB ELSEVIER.
Dịch và chú giải: THS.BS LÊ ĐÌNH SÁNG. Cuốn sách này được dịch và xuất bản trực tuyến vì mục đích học thuật, phi lợi nhuận, duy nhất trên các nền tảng yhoclamsang.net & sachyhoc.com của THƯ VIỆN MEDIPHARM. Bản quyền thuộc về Nhà xuất bản ELSEVIER và các tác giả.


CHƯƠNG 103. BỎNG

Burns
Edward John Richard Watson; Marcela Paola Vizcaychipi

Oh’s Intensive Care Manual, 103, 1146-1152


Chữ Viết Tắt

Chữ viết tắt Nguyên bản tiếng Anh Thuật ngữ tiếng Việt
ACS Abdominal compartment syndrome Hội chứng chèn ép khoang ổ bụng
ARDS Acute respiratory distress syndrome Hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển
ALS Advanced life support Hỗ trợ sự sống nâng cao
ATLS Advanced trauma life support Hỗ trợ sự sống chấn thương nâng cao
CO Carbon monoxide Carbon monoxide
CPOT Critical Care Pain Observation Tool Công cụ quan sát đau trong chăm sóc tích cực
ICU Intensive care unit Đơn vị chăm sóc tích cực
ICU-AW ICU-acquired weakness Yếu cơ mắc phải tại ICU
MODS Multiple organ dysfunction syndrome Hội chứng suy đa tạng
TBSA Total body surface area Tổng diện tích bề mặt cơ thể
TENS Toxic epidermal necrolysis syndrome Hội chứng hoại tử thượng bì nhiễm độc
WHO World Health Organisation Tổ chức Y tế Thế giới

Giới Thiệu

Những trường hợp bỏng nặng cần nhập đơn vị chăm sóc tích cực (intensive care unit – ICU) tạo thành một nhóm người bệnh đặc thù, thể hiện sự không đồng nhất đáng kể về mặt bệnh lý. Bản chất của chấn thương rất đa dạng, từ bỏng nước sôi, bỏng điện, tổn thương do bức xạ, cho đến phơi nhiễm hóa chất. Đối tượng người bệnh trải dài từ trẻ em vô tình với tay lấy chảo nóng, người mắc bệnh động kinh ngã vào lò sưởi, người cao tuổi trong viện dưỡng lão hút thuốc trên giường, nạn nhân của các vụ hỏa hoạn, người say xỉn ngã từ sân ga, nạn nhân bị tạt chất tẩy rửa cho đến những trường hợp tự thiêu.

Tuy nhiên, điểm chung của họ khi mới nhập viện là đều chịu những tổn thương da tức thì trên diện rộng, đi kèm với tình trạng rối loạn điều hòa viêm (inflammatory dysregulation) diễn ra vô cùng ồ ạt. Tình trạng này đòi hỏi sự can thiệp chuyên môn từ các nhóm đa chuyên khoa, những người am hiểu sâu sắc về tiến triển bệnh và các yêu cầu chăm sóc tất yếu sẽ diễn ra sau đó. Chương này sẽ thảo luận chi tiết về quy trình quản lý điều trị cho người bệnh từ thời điểm nhập viện.

Kể từ khi các đơn vị chăm sóc tích cực và các biện pháp hỗ trợ tạng ra đời, bất chấp việc còn thiếu hụt các bằng chứng chất lượng cao, tỷ lệ sống sót sau các ca bỏng nặng vẫn tiếp tục được cải thiện. Nếu không mắc các bệnh lý nền nghiêm trọng, người bệnh hoàn toàn có khả năng sống sót sau những ca bỏng tưởng chừng như thảm khốc. Ngành Y tế không đặt ra bất kỳ giới hạn nào đối với việc chăm sóc chỉ dựa trên tiêu chí Tổng diện tích bề mặt cơ thể (Total Body Surface Area – TBSA).

Những cải thiện về tỷ lệ sống sót này đã dẫn đến một sự thay đổi trọng tâm trong thực hành chăm sóc bỏng gần đây, hướng tới các khía cạnh định tính như phục hồi chức năng, hỗ trợ tâm lý và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh.

Tập Trung Hoá Chăm Sóc

Song song với những tiến bộ lâm sàng, bước phát triển quan trọng nhất giúp nâng cao tỷ lệ sống sót chính là việc thành lập các trung tâm chăm sóc bỏng tập trung. Nhóm chăm sóc bỏng đa chuyên khoa bao gồm các đội ngũ chuyên gia về phẫu thuật và hồi sức tích cực, bác sĩ gây mê, chuyên gia dinh dưỡng, chuyên gia vật lý trị liệu, dược sĩ và bác sĩ tâm lý. Các cơ sở chuyên khoa này cung cấp hệ thống phòng bệnh được kiểm soát nhiệt độ, cơ sở cách ly và kho dự trữ số lượng lớn các loại băng gạc chuyên dụng.

Hiện nay, tỷ lệ mắc các ca bỏng nặng rất thấp, điều này đòi hỏi ngành y tế phải tổ chức các dịch vụ ở cấp độ quốc gia nhằm tập trung kiến thức và kinh nghiệm chuyên môn. Tuy nhiên, do số lượng giường bệnh trên đầu người thấp, một sự cố thương vong hàng loạt có thể nhanh chóng làm quá tải các cơ sở y tế địa phương tiêu chuẩn. Do đó, cộng đồng y khoa chuyên ngành bỏng được cấu trúc chặt chẽ để nhanh chóng phân tuyến và chuyển người bệnh qua các biên giới nội địa cũng như quốc tế.

Phổ Bệnh Lý

Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organisation – WHO) định nghĩa bỏng là “một tổn thương ở da hoặc các mô cơ quan khác chủ yếu do nhiệt hoặc do bức xạ, hoạt tính phóng xạ, điện, ma sát hoặc tiếp xúc với hóa chất”.

Thông thường, bỏng chủ yếu gây tổn thương da, đòi hỏi sự can thiệp trực tiếp từ nhóm phẫu thuật chuyên khoa. Trọng tâm ban đầu là cắt lọc mô hoại tử (debriding dead tissue) và tái tạo hàng rào bảo vệ tự nhiên thông qua việc sử dụng băng gạc, sau đó tiến tới ghép da. Tuy nhiên, bỏng cũng có thể xảy ra ở các cơ quan bên trong, ví dụ như bỏng do nuốt phải chất tẩy rửa, tổn thương bức xạ và bỏng đường hô hấp (inhalational burns).

Tùy thuộc vào cách thức tổ chức dịch vụ y tế, bác sĩ có thể điều trị các trường hợp bỏng không ở da tại một ICU đa khoa. Tuy nhiên, một số bệnh lý khác như hội chứng hoại tử thượng bì nhiễm độc (toxic epidermal necrolysis syndrome – TENS) có thể được theo dõi và điều trị tại đơn vị bỏng.

Thậm chí trong mỗi cơ chế chấn thương, bác sĩ lâm sàng cần ghi nhớ các phân nhóm phụ quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp đến chiến lược quản lý điều trị. Ví dụ, bỏng nước sôi có nhiều khả năng gây tổn thương mô sâu hơn bỏng chớp nhoáng (flash burns) nhưng lại ít đi kèm với chấn thương cơ học hoặc bỏng đường hô hấp. Các dung dịch xút ăn da gây ra quá trình xà phòng hóa sâu (deep saponification), thường đòi hỏi bác sĩ phẫu thuật phải cắt lọc diện rộng hơn so với các tác nhân không chứa xút.

Phổ Người Bệnh

Bỏng có thể ảnh hưởng đến bất kỳ thành viên nào trong xã hội ở bất kỳ độ tuổi nào. Tuy nhiên, các trường hợp bỏng do tai nạn thực sự hiện nay ít phổ biến hơn nhờ vào những tiến bộ trong các tiêu chuẩn an toàn và sức khỏe cộng đồng. Có một đỉnh điểm sớm về bỏng nước sôi ở trẻ em tại độ tuổi mà trẻ có thể với tay tới các bề mặt bếp. Tỷ lệ này cũng rất cao ở những người bệnh lạm dụng chất kích thích hút thuốc trên giường trong tình trạng say xỉn và các vết thương do tự thiêu ở người bệnh mắc các bệnh lý tâm thần. Một số trường hợp khác nhập viện với tư cách là nạn nhân của các vụ tấn công bằng chất tẩy rửa, hoặc bị cố ý phóng hỏa thông qua việc sử dụng các chất gia tốc cháy. Lịch sử bệnh sử thu thập được từ các nhân chứng và cơ quan dịch vụ khẩn cấp đóng vai trò tối quan trọng trong việc xác định chính xác những gì đã xảy ra; bác sĩ hãy luôn cảnh giác với những dấu hiệu cảnh báo đỏ gợi ý về các chấn thương đi kèm.

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Exit mobile version
Trang Chủ