Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Cẩm nang Chăm sóc tích cực của OH, ấn bản thứ 9, 2026. CHƯƠNG 66. YẾU CƠ MẮC PHẢI TẠI ICU

62 phút đọc

Cẩm nang Chăm sóc tích cực của OH, ấn bản thứ 9, 2026. Chủ biên: Jonathan M. Handy, Bala Venkatesh. (C) 2026 NXB ELSEVIER.
Dịch và chú giải: THS.BS LÊ ĐÌNH SÁNG. Cuốn sách này được dịch và xuất bản trực tuyến vì mục đích học thuật, phi lợi nhuận, duy nhất trên các nền tảng yhoclamsang.net & sachyhoc.com của THƯ VIỆN MEDIPHARM. Bản quyền thuộc về Nhà xuất bản ELSEVIER và các tác giả.


CHƯƠNG 66. YẾU CƠ MẮC PHẢI TẠI ICU

ICU-acquired weakness
Zudin Puthucheary; Carol L. Hodgson
Oh’s Intensive Care Manual, 66, 790-800


ĐỊNH NGHĨA

Yếu cơ là một vấn đề thường gặp tại khoa hồi sức tích cực (intensive care unit – ICU). Tình trạng yếu cơ có thể xảy ra do các rối loạn thần kinh cơ nguyên phát (ví dụ: hội chứng Guillain-Barré và bệnh tế bào thần kinh vận động) hoặc là một rối loạn thứ phát do hậu quả của bệnh nặng. Tình trạng sau được gọi là yếu cơ mắc phải tại ICU (ICU-acquired weakness – ICU-AW), đây là một thuật ngữ mô tả chức năng bao trùm của tình trạng yếu cơ xảy ra do bệnh nặng. Theo thời gian, hơn 20 thuật ngữ khác nhau đã được sử dụng cho đến khi một khung định nghĩa được đề xuất và sau đó được chấp nhận như một phần của các hướng dẫn thực hành lâm sàng.

Hiện tại, chúng tôi coi tất cả các tình trạng yếu cơ mới xuất hiện toàn thân mà không có nguyên nhân thay thế nào khác là yếu cơ mắc phải tại ICU (ICU-AW). Ba tổng quan hệ thống ước tính tỷ lệ hiện mắc (prevalence rate) của ICU-AW nằm trong khoảng từ 33% đến 46%. Ở những người bệnh có bằng chứng về bệnh lý đa dây thần kinh và/hoặc bệnh lý cơ, có các phân nhóm bao gồm:

  • Bệnh lý đa dây thần kinh do bệnh nặng (Critical illness polyneuropathy – CIP): Những người bệnh có bằng chứng điện sinh lý của bệnh lý đa dây thần kinh sợi trục đoạn xa.
  • Bệnh lý cơ do bệnh nặng (Critical illness myopathy – CIM): Những người bệnh có bằng chứng điện sinh lý và/hoặc mô học của bệnh lý cơ.
  • Bệnh lý thần kinh – cơ do bệnh nặng (Critical illness neuromyopathy – CINM): Những người bệnh có bằng chứng điện sinh lý và/hoặc mô học của cả CIM và CIP.

CÁC ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG

Các đặc điểm kinh điển của ICU-AW là teo cơ gốc chi (proximal muscle wasting) và yếu liệt mềm đối xứng với mất phản xạ. Các cơ mặt thường không bị ảnh hưởng. Sự hiện diện của tình trạng yếu cơ chủ yếu ở ngọn chi gợi ý một chẩn đoán thay thế HOẶC sự hiện diện của tổn thương sợi trục (CIP hoặc dạng chồng lấp).

CÁC TIÊU CHUẨN CHẨN ĐOÁN

Khám thực thể

ICU-AW được chẩn đoán thông qua khám thể chất bằng cách sử dụng Điểm Tổng hợp Hội đồng Nghiên cứu Y khoa (Medical Research Council – MRC Sum Score). Điểm tổng hợp MRC lần đầu tiên được mô tả ở 60 người bệnh mắc hội chứng Guillain-Barré như một công cụ đánh giá, nằm trong khuôn khổ của thử nghiệm lâm sàng gamma globulin tại Hà Lan. Sự đồng thuận giữa các người đánh giá đạt mức 90% (được định nghĩa là sự thay đổi điểm số < 10%) đã được ghi nhận trong các phép đo giữa các quan sát viên được làm mù. Vào năm 2002, kỹ thuật này đã được triển khai trong một nghiên cứu quan sát đa trung tâm trên 95 người bệnh bệnh nặng sau 7 ngày thở máy. Người bệnh được yêu cầu phải phản hồi chính xác 3 trên 5 câu hỏi, trong 2 lần đánh giá liên tiếp cách nhau 6 giờ, để được coi là phù hợp cho việc kiểm tra sức cơ bằng tay.

Mỗi chi được chấm điểm theo thang điểm sức cơ MRC từ 0-5 cho các nhóm cơ gốc chi và ngọn chi liên quan đến khả năng tạo ra lực chống lại sức cản tối đa của các nhóm cơ (5), chống lại sức cản giảm nhẹ (4), thắng được trọng lực (3), cử động được khi loại bỏ trọng lực (2) hoặc nếu chỉ quan sát thấy rung giật bó cơ (1) hoặc không có cử động (0) (Bảng 66.1), và điểm cho mỗi chi được cộng lại (tối đa là 60). Một điểm cắt tùy ý là 48 được sử dụng để phân biệt những người bệnh bị yếu cơ.

Bảng 66.1: Điểm Tổng hợp Hội đồng Nghiên cứu Y khoa. Sức cơ được cho điểm như sau: khả năng tạo ra lực chống lại sức cản tối đa (5), chống lại sức cản giảm nhẹ (4), thắng được trọng lực (3), cử động được khi loại bỏ trọng lực (2) hoặc chỉ quan sát thấy rung giật bó cơ (1) hoặc không có cử động (0)

BÊN PHẢI ĐIỂM BÊN TRÁI ĐIỂM
Dạng vai (0-5) Dạng vai (0-5)
Gập khuỷu (0-5) Gập khuỷu (0-5)
Duỗi cổ tay (0-5) Duỗi cổ tay (0-5)
Gập háng (0-5) Gập háng (0-5)
Duỗi gối (0-5) Duỗi gối (0-5)
Gập mu chân (0-5) Gập mu chân (0-5)
TỔNG CỘNG (0-30) TỔNG CỘNG (0-30)

Điểm MRC-SS = TỔNG CỘNG ĐIỂM BÊN PHẢI VÀ BÊN TRÁI. Điểm MRC-SS ≤ 48 = ICU-AW.

Có một số lo ngại tồn tại liên quan đến tiện ích lâm sàng của công cụ này. Mặc dù độ tin cậy giữa các người đánh giá rất xuất sắc đã được ghi nhận ở những đối tượng khỏe mạnh và những người sống sót sau bệnh nặng, nhưng điều này lại kém đi đáng kể trong bối cảnh ICU. Hơn nữa, có từ 30% – 60% người bệnh đã không thể thực hiện bài kiểm tra sức cơ bằng tay khi được đánh giá. Tình trạng teo cơ gốc chi là cực kỳ phổ biến và có tầm quan trọng đáng kể về mặt chức năng ban đầu, nhưng lại ít được thể hiện đầy đủ trong Điểm Tổng hợp MRC (Hình 66.1). Cuối cùng, đánh giá bằng điểm Tổng hợp MRC có thể phát hiện tình trạng yếu cơ một khi nó đã xảy ra, nhưng không thể xác định được những người có nguy cơ.

Hình 66.1: Phân bố Điểm Nghiên cứu Y khoa ở những người bệnh bệnh nặng tỉnh táo, cho thấy tình trạng teo cơ gốc chi. (Từ: De Jonghe B, Sharshar T, Lefaucheur JP, et al. Paresis acquired in the intensive care unit: a prospective multicenter study. JAMA. 2002;288(22):2859-2867)

Các Nghiên Cứu Điện Sinh Lý

Các bất thường về dẫn truyền thần kinh đã được chứng minh lặp đi lặp lại ở người bệnh bệnh nặng, và được Bolton mô tả lần đầu tiên vào năm 1984. Các giả thuyết mới nổi về sinh lý bệnh bao gồm các bệnh lý kênh ion mắc phải của các kênh natri cổng điện thế (voltage-gated sodium channels), định vị khiếm khuyết tại màng cơ. Ngoài ra, sự phá vỡ cấu trúc mô tế bào thần kinh đã được nhìn thấy trong các mẫu sinh thiết thần kinh ngoại biên. Việc định lượng và mô tả các khiếm khuyết chức năng này được thực hiện bằng các nghiên cứu dẫn truyền thần kinh (nerve conduction studies – NCS) và điện cơ đồ (electromyography – EMG). Ngoài những khó khăn về mặt kỹ thuật khi thực hiện và diễn giải EMG trong bối cảnh chăm sóc tích cực, việc sử dụng chúng trong đánh giá căn nguyên hoặc mức độ nghiêm trọng của tình trạng yếu cơ bị giới hạn bởi hai yếu tố. Thứ nhất, các bất thường trên EMG và NCS dường như là phổ biến ở các người bệnh ICU và có mối tương quan kém với mức độ nghiêm trọng của sự mất chức năng cơ. Thứ hai, việc thiếu sự hợp tác của người bệnh (ví dụ, do tác dụng của an thần hoặc sử dụng thuốc liệt cơ) ngăn cản việc phát hiện sớm các bất thường thần kinh cơ và theo đó là nguy cơ yếu cơ. Mặc dù bệnh lý thần kinh nặng gây suy nhược, nhưng bệnh lý thần kinh do bệnh nặng lại ít phổ biến hơn nhiều so với bệnh lý cơ do bệnh nặng, và một lần nữa, có tương quan kém với các triệu chứng yếu cơ.

Các nghiên cứu điện sinh lý hiếm khi được thực hiện trong giai đoạn cấp tính. Tuy nhiên, sinh lý thần kinh là yếu tố cần thiết cho việc chẩn đoán tổn thương thần kinh ngoại biên – cả chứng bàn chân rủ (foot drop) và các hội chứng chèn ép đều phổ biến và, nếu không được điều trị, có thể dẫn đến khuyết tật chức năng. Hơn nữa, nó có thể được sử dụng để phân biệt các nguyên nhân ít phổ biến khác gây yếu cơ bị bộc lộ do tình trạng bệnh nặng (ví dụ: bệnh tế bào thần kinh vận động).

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Exit mobile version
Trang Chủ