Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Cẩm nang Chăm sóc tích cực của OH, ấn bản thứ 9, 2026. CHƯƠNG 8. CÁC VẤN ĐỀ THƯỜNG GẶP SAU KHI XUẤT VIỆN KHỎI KHOA HỒI SỨC TÍCH CỰC

29 phút đọc

Cẩm nang Chăm sóc tích cực của OH, ấn bản thứ 9, 2026. Chủ biên: Jonathan M. Handy, Bala Venkatesh. (C) 2026 NXB ELSEVIER.
Dịch và chú giải: BS LÊ ĐÌNH SÁNG. Cuốn sách này được dịch và xuất bản trực tuyến vì mục đích học thuật, phi lợi nhuận, duy nhất trên các nền tảng yhoclamsang.net & sachyhoc.com của THƯ VIỆN MEDIPHARM. Bản quyền thuộc về Nhà xuất bản ELSEVIER và các tác giả.


CHƯƠNG 8. CÁC VẤN ĐỀ THƯỜNG GẶP SAU KHI XUẤT VIỆN KHỎI KHOA HỒI SỨC TÍCH CỰC

Common problems after ICU
Andrew Slack; Kate Tantam; Joel Meyer
Oh’s Intensive Care Manual, 8, 60-66


Hội Chứng Sau Chăm Sóc Tích Cực (Pics)

Hội chứng sau chăm sóc tích cực (post-intensive care syndrome – PICS) ảnh hưởng đến khoảng 40% – 60% những người sống sót sau bệnh lý nguy kịch. Hội chứng này biểu hiện bằng tình trạng suy giảm ở ba lĩnh vực: nhận thức, tâm lý và/hoặc chức năng thể chất, từ đó tác động tiêu cực đến chất lượng cuộc sống của người bệnh. Những khiếm khuyết này có thể chỉ khu trú ở một lĩnh vực duy nhất hoặc bao trùm cả ba lĩnh vực với các mức độ nghiêm trọng khác nhau. Các yếu tố như tình trạng sức khỏe trước khi nhập viện, mức độ nặng của bệnh lý cấp tính, thời gian nằm viện, cũng như mối tương tác giữa các bệnh đồng mắc đã có từ trước với các bệnh lý mới mắc đều có ảnh hưởng lớn đến kết cục phục hồi chức năng và quá trình hình thành các triệu chứng PICS (Hình 8.1).

Hình 8.1 Tiến triển quỹ đạo khỏe mạnh và bệnh lý ở những cá nhân mắc bệnh lý nguy kịch. (Từ Cuthbertson BH, Wunsch H. Long-term outcomes after critical illness. The best predictor of the future is the past. Am J Respir Crit Care Med. 2016; 194(2):132-134.)

Suy Giảm Thể Chất

Tình trạng yếu cơ mắc phải tại khoa hồi sức tích cực (intensive care unit-acquired weakness) có thể ảnh hưởng đến một nửa số bệnh nhân sống sót sau khi nằm ICU từ một tuần trở lên. Đây là hệ quả của tình trạng rối loạn chức năng tế bào (rối loạn chức năng ty thể [mitochondrial dysfunction] và sự giải phóng các cytokine gây viêm [inflammatory cytokines]) đi kèm với tình trạng bất động và suy giảm thể trạng (deconditioning). Việc phục hồi chức năng sớm mang lại sự an toàn, nhưng tình trạng sảng (delirium) tại ICU và suy giảm nhận thức có thể cản trở sự hợp tác của bệnh nhân. Những hệ lụy lâu dài của tình trạng yếu cơ lên quá trình phục hồi chức năng bao gồm hạn chế khả năng gắng sức, mệt mỏi, cứng khớp, mất thăng bằng (nguy cơ té ngã) và sự phụ thuộc vào người khác trong các hoạt động sống hàng ngày (activities of daily living). Bất kỳ khiếm khuyết thể chất nào sau đây – khó thở, rụng tóc, thay đổi giọng nói, khó nuốt (dysphagia) và rối loạn chức năng tình dục – đều có thể tác động tiêu cực đến sức khỏe tâm thần và chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe.

Suy Giảm Nhận Thức

Nguy cơ suy giảm nhận thức dao động từ 20% đến 40%. Tình trạng này có thể chỉ mang tính tạm thời, ảnh hưởng đến người bệnh trong vòng tối đa 2 năm, nhưng đôi khi tồn tại vĩnh viễn. Các yếu tố nguy cơ chính gây suy giảm nhận thức bao gồm:

  • Sảng tại ICU (đặc biệt là sảng kéo dài)
  • Thở máy xâm nhập kéo dài
  • Tuổi cao
  • Có tình trạng suy giảm nhận thức từ trước

Việc nhận diện và quản lý tình trạng sảng tại ICU trong thời gian mắc bệnh nguy kịch đóng vai trò vô cùng quan trọng, đòi hỏi sự kết hợp giữa các can thiệp dùng thuốc và không dùng thuốc. Các cơ sở y tế cần triển khai nhất quán Gói chăm sóc ABCDEF của Hội Y học Chăm sóc Tích cực (Society of Critical Care Medicine’s ABCDEF bundle) và Hướng dẫn PADIS 2018 (Hướng dẫn Dự phòng và Quản lý Đau, Kích thích/An thần, Sảng, Bất động và Rối loạn giấc ngủ ở Bệnh nhân Người lớn tại ICU) trong môi trường ICU nhằm cải thiện các kết cục dài hạn:

  • Đánh giá, Dự phòng và Quản lý Đau (Assess, Prevent, and Manage Pain);
  • Thực hiện cả Thử nghiệm Thức tỉnh Tự phát (Spontaneous Awakening Trials – SAT) và Thử nghiệm Thở Tự phát (Spontaneous Breathing Trials – SBT);
  • Lựa chọn thuốc giảm đau và an thần (Choice of analgesia and sedation);
  • Sảng: Đánh giá, Dự phòng và Quản lý (Delirium: Assess, Prevent, and Manage);
  • Vận động sớm và Tập luyện (Early mobility and Exercise);
  • Sự tham gia và trao quyền cho gia đình (Family engagement and empowerment).

Các chiến lược nhằm nhân bản hóa (humanisation) môi trường ICU có mối liên hệ mật thiết với việc cải thiện kết cục lâm sàng, nâng cao trải nghiệm của bệnh nhân và người thân, đồng thời làm giảm tình trạng kiệt sức (burnout) của nhân viên y tế làm việc trong môi trường hồi sức tích cực, xem chi tiết ở Hộp 8.1.

Hộp 8.1: Nhân bản hóa môi trường chăm sóc tích cực
Việc tối ưu hóa trải nghiệm của bệnh nhân và người thân tại khoa chăm sóc tích cực luôn gắn liền với công tác quản lý sảng. Đội ngũ y tế cần thúc đẩy mô hình chăm sóc lấy bệnh nhân làm trung tâm thông qua các biện pháp như: sử dụng không gian ngoài trời trị liệu, áp dụng các liệu pháp hỗ trợ có động vật tham gia, tối ưu hóa giấc ngủ, cá nhân hóa không gian giường bệnh, hiển thị rõ ràng các kế hoạch phục hồi chức năng toàn diện, cho phép sử dụng thiết bị cá nhân và tiếp cận với các công cụ hỗ trợ giao tiếp. Quá trình phục hồi sau bệnh lý nguy kịch đòi hỏi việc chuyển tuyến chăm sóc ra khỏi môi trường ICU, đến những khu vực có sự sụt giảm về số lượng nhân viên y tế và trang thiết bị hỗ trợ. Nhân viên y tế cần tiếp cận việc giảm cường độ chăm sóc một cách tế nhị vì bệnh nhân và người thân thường nảy sinh cảm giác bị “bỏ rơi”. Chúng ta có thể giải quyết tình trạng này thông qua việc bàn giao bằng văn bản và lời nói rõ ràng, hồ sơ tóm tắt xuất viện, cung cấp sổ nhật ký bệnh nhân (Hộp 8.3) cùng với quá trình chăm sóc liên tục từ các đội ngũ phục hồi chức năng và sự phối hợp điều phối chăm sóc nội trú đa chuyên khoa.

Sự suy giảm nhận thức có thể biểu hiện bằng tình trạng rối loạn chức năng điều hành (executive function), giảm sự chú ý và trí nhớ. Những khiếm khuyết này cản trở khả năng nấu ăn, lái xe, quản lý tài chính, sử dụng công nghệ, vận hành các thiết bị chăm sóc sức khỏe, khả năng thấu hiểu các tình huống xã hội, khả năng quay lại làm việc và thực hiện vai trò làm cha mẹ hoặc người chăm sóc. Tình trạng suy giảm nhận thức không được phát hiện kịp thời sẽ gây nguy hiểm cho sự an toàn của bệnh nhân và người thân; do đó, bài đánh giá nhận thức phải là một phần bắt buộc trong quy trình đánh giá PICS. Hộp 8.2 phác thảo những tác động của việc suy giảm nhận thức đối với quá trình trở lại làm việc, vấn đề tài chính và sức khỏe tâm thần.

Hộp 8.2: PICS có ý nghĩa gì đối với bệnh nhân của bạn?
Ở những người sống sót sau ICU từng có việc làm trước đó, khoảng hai phần ba, hai phần năm và một phần ba trong số họ rơi vào tình trạng thất nghiệp ở các thời điểm tương ứng là 3, 12 và 60 tháng sau khi xuất viện. Tình trạng này có nguy cơ tác động nghiêm trọng đến người thân và những vai trò mở rộng trong gia đình. Áp lực tài chính liên quan đến sự thay đổi hoàn cảnh dễ dẫn đến sức khỏe tâm thần ngày càng tồi tệ và kích hoạt Hội chứng sau chăm sóc tích cực ở thành viên gia đình (post-intensive care syndrome in family members – PICS-F). Các thành viên gia đình của bệnh nhân ICU phải trải qua hội chứng PICS-F nhằm phản ứng lại với căn bệnh nguy kịch của người thân, đặc trưng bởi các triệu chứng tâm lý mới xuất hiện hoặc ngày càng tồi tệ hơn.

Suy Giảm Tâm Lý

Các triệu chứng tâm lý phổ biến nhất bao gồm thay đổi tâm trạng, cảm xúc không ổn định (emotional lability), thay đổi trong các mối quan hệ, lo âu và trầm cảm, những đoạn hồi tưởng tái hiện chấn thương (flashbacks), ác mộng, tình trạng mất trí nhớ (amnesia) về khoảng thời gian nằm ICU và sự cô lập với xã hội.

Bệnh nhân ICU thường trải qua:

  • Lo âu (Khoảng 70%)
  • Trầm cảm (Khoảng 33%) tại thời điểm 1 tháng sau khi trở về nhà
  • Rối loạn căng thẳng sau sang chấn (post-traumatic stress disorder – PTSD) (10%-50%)

Các triệu chứng PTSD có ý nghĩa lâm sàng bao gồm hành vi né tránh và trạng thái tăng cảnh giác (avoidance and hyperarousal), xảy ra với tần suất gấp đôi so với các triệu chứng xâm nhập/quấy rầy (intrusion symptoms) (chẳng hạn như ác mộng và các đoạn hồi tưởng tái hiện chấn thương). Các yếu tố nguy cơ dẫn đến PTSD bao gồm bệnh lý tâm thần mắc phải từ trước khi vào ICU (PTSD hoặc trầm cảm), việc sử dụng các thuốc nhóm benzodiazepine (tính theo tổng liều lượng thay vì thời gian sử dụng) và những ký ức đáng sợ về giai đoạn hậu ICU.

Phòng Khám Phục Hồi Sau Icu

Mục tiêu then chốt của bất kỳ nhóm chăm sóc đa chuyên khoa nào khi thực hiện vai trò dịch vụ phục hồi sau ICU là đánh giá mức độ của các triệu chứng PICS và tiến hành can thiệp sao cho phù hợp (xem Hình 8.2). Dịch vụ phục hồi ngoại trú có thể do bác sĩ chuyên khoa hồi sức tích cực chủ trì (consultant intensivist-led) hoặc do điều dưỡng điều hành với sự hỗ trợ từ một số hoặc toàn bộ các chuyên gia thuộc khối ngành sức khỏe tương hỗ (allied health professionals) sau đây để cùng hợp tác đánh giá bệnh nhân: chuyên viên hoạt động trị liệu, chuyên viên vật lý trị liệu, chuyên viên tâm lý, dược sĩ, chuyên viên dinh dưỡng, chuyên viên âm ngữ trị liệu và bác sĩ tâm thần liên lạc hoặc bác sĩ tâm thần kinh (liaison- or neuro-psychiatrist).

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Exit mobile version
Trang Chủ