Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Cẩm nang Chăm sóc tích cực của OH, ấn bản thứ 9, 2026. CHƯƠNG 84. BÉO PHÌ

46 phút đọc

Cẩm nang Chăm sóc tích cực của OH, ấn bản thứ 9, 2026. Chủ biên: Jonathan M. Handy, Bala Venkatesh. (C) 2026 NXB ELSEVIER.
Dịch và chú giải: THS.BS LÊ ĐÌNH SÁNG. Cuốn sách này được dịch và xuất bản trực tuyến vì mục đích học thuật, phi lợi nhuận, duy nhất trên các nền tảng yhoclamsang.net & sachyhoc.com của THƯ VIỆN MEDIPHARM. Bản quyền thuộc về Nhà xuất bản ELSEVIER và các tác giả.


CHƯƠNG 84. BÉO PHÌ

Obesity 
Rob Bevan
Oh’s Intensive Care Manual, 84, 967-974


ĐỊNH NGHĨA

Thuật ngữ ‘béo phì’ (obesity) đã phát triển từ các định nghĩa y học mang tính định lượng và định tính để đi vào các câu chuyện xã hội và chính trị, đôi khi mang ý nghĩa miệt thị đối với các cá nhân và các nhóm người.

Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organisation – WHO) định nghĩa béo phì là sự tích tụ mỡ bất thường hoặc quá mức gây ra nguy cơ cho sức khỏe. Khái niệm ‘béo phì là một căn bệnh’ (obesity as a disease) (thay vì đại diện cho ‘cuộc sống sung túc’) chỉ mới xuất hiện trong thế kỷ qua: Vào đầu thế kỷ 18, dữ liệu bảo hiểm liên kết ‘khung cơ thể’ với tỷ lệ tử vong đã đưa ra khái niệm về cân nặng ‘lý tưởng’ cho một chiều cao nhất định. Việc nhận ra vào những năm 1830 rằng tỷ lệ giữa cân nặng của một người (tính bằng kilôgam) chia cho bình phương chiều cao của họ (tính bằng mét) đã cung cấp một công cụ thực tiễn hơn, và cuối cùng dẫn đến thuật ngữ Chỉ số Khối Cơ thể (Body Mass Index – BMI). WHO đã kết hợp BMI để phân loại người bệnh vào các nhóm cân nặng. Khái niệm này đã được tinh chỉnh thêm để mô tả Béo phì Độ I-III (Bảng 84.1). Đối với trẻ em, béo phì được xác định khi chỉ số BMI lớn hơn +2 độ lệch chuẩn so với mức trung vị tham chiếu tăng trưởng của WHO.

BMI không đo lường lượng mỡ trong cơ thể. Việc ngoại suy tỷ lệ mô mỡ của một người từ một chỉ số được phát triển dựa trên một quần thể mẫu ‘Anglo-Saxon’ hẹp, mang tính lịch sử đã được chứng minh là có nhiều vấn đề: Tuổi tác, giới tính, dân tộc và khối lượng cơ bắp đều là các yếu tố gây nhiễu đến mối tương quan này.

Đại dịch béo phì được phản ánh rõ qua xu hướng nhập viện tại Khoa Hồi sức Tích cực (Intensive Care Unit – ICU). Tính đến năm 2020, 68% số ca nhập viện ICU ở người lớn tại Úc và Aotearoa New Zealand là những người thừa cân hoặc béo phì, trong khi 16% được phân loại là béo phì Độ II trở lên.

Có rất ít dấu hiệu cho thấy đại dịch này đang thuyên giảm. Giải pháp tập trung vào cá nhân với khẩu hiệu ‘ăn thức ăn lành mạnh và tập thể dục nhiều hơn’ đã bị đơn giản hóa quá mức: Trên thực tế, sự tương tác phức tạp của các yếu tố quyết định sức khỏe về mặt xã hội, chính sách và quy định của chính phủ luôn tồn tại trạng thái giằng co với lợi ích và ảnh hưởng của ngành công nghiệp thực phẩm toàn cầu đầy quyền lực.

SINH LÝ BỆNH

Yếu tố thúc đẩy cơ bản của béo phì là lượng năng lượng nạp vào (thức ăn được chuyển hóa) vượt quá mức năng lượng tiêu hao, trong đó mỡ được dự trữ dưới dạng các chất béo (triglycerides) bên trong các nguyên bào sợi bị biến đổi gọi là tế bào mỡ (adipocytes). Các tế bào mỡ có thể tăng sinh ở bất kỳ giai đoạn nào của cuộc đời; một người béo phì mức độ nặng có thể có số lượng tế bào mỡ nhiều gấp bốn lần, và mỗi tế bào chứa lượng lipid dư thừa gấp đôi so với người gầy. Tuy nhiên, khi vượt quá khả năng dự trữ của tế bào mỡ, quá trình tích tụ lipid sẽ xảy ra bên trong cơ và gan, thúc đẩy tình trạng đề kháng insulin (insulin resistance) và gây ra độc tính lipid trực tiếp đặc hiệu trên cơ quan (organ-specific lipo-toxicity). Mô mỡ hoạt động tích cực về mặt chuyển hóa, giải phóng liên tục các chất trung gian tiền viêm vào hệ mạch máu.

ĐẶC ĐIỂM NHÂN KHẨU HỌC

Theo WHO, tỷ lệ hiện mắc (prevalence rate) béo phì trên toàn thế giới đã tăng gấp ba lần từ năm 1975 đến 2016. Tại Vương quốc Anh, Úc, Aotearoa New Zealand và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (Mỹ), khoảng 2/3 đến 3/4 số người trưởng thành được phân loại là thừa cân hoặc béo phì.

Chi phí gánh nặng cho xã hội là rất lớn: Vào năm 2005, 21% chi phí y tế quốc gia của Mỹ được dành cho các bệnh lý liên quan đến béo phì. Đáng kinh ngạc hơn nữa là ước tính trong giai đoạn từ năm 2010 đến 2030, sẽ có khoảng 2 đến 6 triệu và 25 đến 48 triệu năm sống được điều chỉnh theo chất lượng (quality-adjusted life-years – QALYs) bị mất đi tại Vương quốc Anh và Mỹ do các bệnh lý liên quan đến béo phì.

Bảng 84.1 Phân loại béo phì theo BMI của WHO

Phân loại BMI (kg/m2)
Thiếu cân Dưới 18.5
Thừa cân 25 – 29.9
Béo phì Độ I (mức độ trung bình) 30 – 34.9
Béo phì Độ II (mức độ nặng) 35 – 39.9
Béo phì Độ III (mức độ rất nặng) 40 trở lên

Các phân loại ở người lớn theo BMI. Béo phì ở trẻ em = BMI lớn hơn +2 độ lệch chuẩn so với mức trung vị tham chiếu của WHO.

Y học đã mô tả các nguyên nhân gây béo phì do đơn gen (monogenic) và đa gen (polygenic) – trong đó nguyên nhân đơn gen rất hiếm gặp, nhưng nguyên nhân đa gen có thể do hơn 220 biến thể gen ảnh hưởng đến nhiều quá trình tiêu hóa và chuyển hóa.

Bất chấp những hiểu biết mới của chúng ta về các yếu tố nguy cơ di truyền, tốc độ thay đổi về tỷ lệ hiện mắc chỉ ra rằng môi trường mới là yếu tố thống trị của bệnh béo phì. Sự sẵn có ngày càng tăng của các loại thực phẩm và đồ uống rẻ tiền, giàu calo, được tiêu thụ với khẩu phần ngày càng lớn có khả năng là động lực thúc đẩy lượng năng lượng nạp vào quá mức. Ngược lại, sự chuyển đổi sang các công việc ít vận động hơn trong vài thập kỷ qua được cho là chỉ làm giảm mức tiêu hao calo ở mức độ khiêm tốn.

Khi béo phì biểu hiện rõ trên lâm sàng, tác động ròng là sự thay đổi toàn thân về chức năng chuyển hóa, nội tiết và sinh sản, đi kèm với các biến chứng đặc hiệu trên cơ quan được mô tả dưới đây.

Tóm lại, không phải tất cả những người tiếp xúc với các yếu tố này đều trở nên béo phì. Trong khi một số người vẫn duy trì thể trạng gầy một cách kiên định, những người khác lại phải vật lộn đáng kể để ngăn ngừa việc tăng cân. Điều này củng cố thêm quan điểm cho rằng béo phì (giống như vô số bệnh lý y khoa khác) là kết quả của sự tương tác phức tạp giữa môi trường sống và yếu tố bẩm sinh di truyền của một cá nhân, đồng thời bị che lấp bởi các bệnh lý y khoa gây nhiễu.

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Exit mobile version
Trang Chủ