Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Chẩn đoán Hình ảnh Nhập môn, Ấn bản thứ 5. CHƯƠNG 15: NHẬN BIẾT KHÍ NGOÀI LÒNG RUỘT TRONG Ổ BỤNG

25 phút đọc

Chẩn đoán Hình ảnh Nhập môn: Các Nguyên lý và Dấu hiệu Nhận biết, Ấn bản thứ 5
Tác giả: William Herring, MD, FACR – © 2024 Nhà xuất bản Elsevier
Ths.Bs. Lê Đình Sáng (Chủ biên Bản dịch tiếng Việt)


CHƯƠNG 15: NHẬN BIẾT KHÍ NGOÀI LÒNG RUỘT TRONG Ổ BỤNG

Recognizing Extraluminal Air in the Abdomen
William Herring, MD, FACR
Learning Radiology, 15, 161-170


Việc nhận biết khí ngoài lòng ruột là một dấu hiệu quan trọng có thể ảnh hưởng ngay lập tức đến quá trình điều trị. Khí bình thường không có trong khoang phúc mạc hoặc khoang ngoài phúc mạc, thành ruột, hoặc hệ thống đường mật. Khí bên ngoài lòng ruột được gọi là khí ngoài lòng ruột.

  • Bốn vị trí phổ biến nhất của khí ngoài lòng ruột là:
    • Trong phúc mạc (tràn khí phúc mạc) (thường được gọi là khí tự do)
    • Khí sau phúc mạc
    • Khí trong thành ruột (tràn khí ruột)
    • Khí trong hệ thống đường mật (tràn khí đường mật)
CÂU HỎI TÌNH HUỐNG 15

Một bệnh nhân nam 48 tuổi đến khoa cấp cứu vì đau bụng dữ dội và bụng gõ vang. Một phim X-quang bụng nằm ngửa đã được chụp và được hiển thị. Một thời gian sau, bệnh nhân được xuất viện sau khi trải qua một trong những sự kiện có khả năng nhất sau đây? (a) dùng neostigmine, (b) đặt ống thông trực tràng, (c) phẫu thuật bụng, hoặc (d) cắt polyp. Xem câu trả lời ở cuối chương.

Hình ảnh phim X-quang bụng nằm ngửa của một bệnh nhân nam 48 tuổi

 

KHÍ TỰ DO TRONG PHÚC MẠC

ĐIỂM QUAN TRỌNG
  • Ba dấu hiệu X-quang chính của khí tự do trong phúc mạc được sắp xếp dưới đây theo thứ tự chúng thường được thấy nhất:
    • Khí bên dưới cơ hoành
    • Nhìn thấy cả hai bên thành ruột
    • Nhìn thấy dây chằng liềm

Khí bên dưới Cơ hoành

  • Khí tự do thường sẽ dâng lên phần cao nhất của bụng. Ở tư thế đứng, khí tự do thường sẽ hiện ra dưới cơ hoành dưới dạng một vùng sáng hình lưỡi liềm song song với mặt dưới của cơ hoành (Hình 15.1).
  • Kích thước của hình lưỡi liềm sẽ gần như tương ứng với lượng khí tự do. Lượng khí tự do càng nhỏ, hình lưỡi liềm càng mỏng; lượng khí tự do càng lớn, hình lưỡi liềm càng lớn (Hình 15.2).
  • Mặc dù khí tự do được thể hiện tốt nhất trên các phim CT bụng vì độ nhạy cao hơn trong việc phát hiện lượng khí tự do rất nhỏ (Hình 15.3), hầu hết các khảo sát bụng đều bắt đầu bằng X-quang thường quy. X-quang thường quy đóng vai trò là một công cụ sàng lọc quan trọng, trên đó nhiều trường hợp khí tự do không nghi ngờ trước đó được phát hiện.

Hình 15.1 Khí tự do bên dưới Cơ hoành. Có các hình lưỡi liềm mỏng của không khí bên dưới cả vòm hoành phải (mũi tên liền) và trái (mũi tên chấm) đại diện cho khí tự do trong phúc mạc. Bình thường có một mức khí-dịch trong dạ dày (S) bên dưới vòm hoành trái. Bệnh nhân đã trải qua phẫu thuật bụng 2 ngày trước đó.

 

Hình 15.2 Lượng lớn Khí tự do. Phim ngực đứng cho thấy một lượng lớn khí tự do (FA) bên dưới mỗi vòm hoành (mũi tên trắng). Cả hai bên thành ruột của góc lách cũng được nhìn thấy (mũi tên đen liền) cũng như dấu hiệu vòm của khí tự do (mũi tên đen chấm).

 

Hình 15.3 Lượng nhỏ Khí tự do, CT. Phim CT ngang của bụng trên được thực hiện với bệnh nhân nằm ngửa cho thấy một bộ sưu tập rất nhỏ khí tự do bên dưới thành bụng trước (mũi tên liền). Đặc trưng, khí tự do không có thành ruột bao quanh, như không khí trong các quai ruột (mũi tên chấm). Lượng khí tự do này không nhìn thấy được trên X-quang thường quy.

 

Hình 15.4 Vòm hoành trái Bình thường (A) và Khí tự do dưới Vòm hoành (B). (A) Khó phát hiện khí tự do ở góc phần tư trên trái hơn bên phải vì sự hiện diện của các cấu trúc chứa khí bình thường như dạ dày (S) và góc lách (SF). (B) Ở một bệnh nhân khác, có một hình lưỡi liềm của khí tự do (mũi tên) bên dưới vòm hoành trái và phía trên SF.

ĐIỂM QUAN TRỌNG
  • Trên X-quang thường quy, khí tự do được thể hiện tốt nhất với chùm tia X hướng song song với sàn nhà (tức là, một chùm tia ngang) (xem Hình 12.14). Lượng khí tự do nhỏ sẽ không nhìn thấy được trên các phim X-quang trong đó chùm tia X được hướng thẳng đứng xuống dưới, chẳng hạn như các phim nằm ngửa hoặc nằm sấp.
  • Khí tự do dễ nhận biết hơn dưới vòm hoành phải vì đó là vị trí bình thường của gan, có đậm độ mô mềm. Khí tự do khó nhận biết hơn dưới vòm hoành trái vì các cấu trúc chứa khí, chẳng hạn như đáy vị của dạ dày và góc lách của đại tràng, đã cư trú ở vị trí đó, và chúng có thể bắt chước hoặc che giấu khí tự do (Hình 15.4).
  • Nếu bệnh nhân không thể đứng hoặc ngồi thẳng, thì một phim chụp bụng với bệnh nhân nằm nghiêng về bên trái (nghĩa là bên phải hướng lên trên) được chụp bằng chùm tia X ngang có thể cho thấy khí tự do dâng lên trên bờ phải của gan (xem Hình 12.15). Đây được gọi là phim bụng nghiêng trái (Hình 15.5).

 

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Exit mobile version
Trang Chủ