Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh
Nội khoa BẢN ĐỌC THỬ

Chẩn đoán và điều trị lao nội mạc phế quản

9 phút đọc

Nguồn: “ Phác đồ điều trị 2020”- Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch

TỔNG QUAN

Lao nội mạc phế quản (Endobronchial Tuberculosis -EBTB): nhiễm trùng lao của cây khí phế quản với bằng chứng vi sinh vật và mô bệnh học. Các triệu chứng hô hấp không đặc hiệu cùng với Xquang phổi bình thường trong 10 đến 20%  trường hợp có thể là nguyên nhân làmchậm chẩn đoán. Cần phân biệt lao nội mạc phế quản với Lao thanh quản.

Chẩn đoán và điều trị sớm giúp ngăn ngừa các biến chứng. Ngay cả sau khi đã được chẩn đoán xác định diễn tiến lâm sàng khá thay đổi đẫn đến tình trạng chít hẹp phế quản. Tỷ lệ chít hẹp phế quản có thể lên tới 68% trong 4 đến 6 tháng đầu của bệnh và có thể kéo dài về sauvà có thể đến 90% bệnh nhân bị ảnh hưởng.

Mục tiêu điều trị là loại bỏ vi khuẩn lao bằng thuốc chống lao và phòng ngừa hẹp đường thở. Cần nội soi phế quản can thiệp và phẫu thuật cho những trường hợp hẹp nặng.

NHỮNG BỆNH NHÂN NÀO CẦN TẦM SOÁT LAO NỘI MẠC PHẾ QUẢN

Dựa trên những nghiên cứu, có đến10 đến 40% lao nội mạc phế quản ở lao phổiđang hoạt động.

Thường hay gặp ở phụ nữ trẻ, tuổi 20 và 30 và ít hơn ở người già. Lao nội mạc phế quản thường liên quan đến hội chứng thuỳ giữa phải.

Trên thực tế bệnh thường phát hiện trễ khi xuất hiệnnhững triệu chứng lâm sàng của biến chứng hẹp tại những vị trí khác nhau của cây khí, phế  quản (cần phân biệt hen, dị vật, u, viêm phổi tái đi tái lại…)

Việc chọn lựa bệnh nhân nào cần tầm soát sớm Lao nội mạc phế quản thật sự khó khăn vì những biểu hiện lâm sàng ít ỏi và có đến 20% Xquang ngực thường quy trong giới hạn bình thường do đó cần phụ thuộc thêm vào kinh nghiệm của bác sĩ lâm sàng.

Nên nghĩ đến lao nội mạc phế quản khi soi đàm dương tính nhưng tổn thương trên hình ảnh học ở vị trí không điển hình, khu trú ở rốn phổi hay có hạch trung thất.

CƠ CHẾ BỆNH SINH

Cơ chế bệnh sinh chính xác của Lao nội mạc phế quản vẫn chưa được hiểu đầy đủ, các cơ chế lây nhiễm sau đã được mô tả :

Lan rộng trực tiếp từ tổn thương nhu mô phổi kế cận • Sang thương do lắng đọng vi khuẩn từ đàm nhiễm bệnh

Lây nhiễm qua đường máu, bạch huyết.

Xâm lấn của lao hạch trung thất vào phế quản

Nồng độ interferon gamma và TGF-beta tăng cao trong dịch rửa phế quản có thể liên quan đến sinh bệnh học và tiến triển của Lao nội mạc phế quản.

Biến đổi về nồng độ TGF-beta trong huyết thanh sau  điều trị có liên quan đến sự phát triển của hẹp khí phế quản trong quá trình bệnh.

Lao nội mạc phế quản có thể ảnh hưởng đến bất cứ vị trí nào  của cây khí phế quản và bất kỳ lớp nào của thành khí phế quản bao gồm lớp cơ niêm và tới tận lớp sụn.

Những thay đổi bệnh lý chủ yếu bao gồm thâm nhiễm lao lớp niêm và dưới niêm mạc, loét, u hạt, u xơ và hẹp khí phế quản.

Loét có thể tiến triển vào thành khí phế quản và trở thành loét sâu, hoặc có thể trở thành polyp tăng sản gây viêm nhô ra trong lòng khí quản tạo hình ảnh giả u.

Ở giai đoạn tiến triển, tăng sản xơ và co rút phát triển dẫn tới gây hẹp khí phế quản.

CHẨN ĐOÁN

Chẩn đoán sớm Lao nội mạc phế quản đóng vai trò quan trọng trong việc điều trị và ngăn ngừa những biến chứng phức tạp.

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

Gửi bình luận

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Exit mobile version
Trang Chủ