Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh
Nội khoa BẢN ĐỌC THỬ

Chiến lược truyền máu ở bệnh nhân xơ gan

53 phút đọc
  • Tác giả:PATRICIA LIU, JUSTINE HUM. RICHARD M.SCANLAN, JOSEPH SHATZEL
  • Chuyên ngành:HỒI SỨC CẤP CỨU
  • Nhà xuất bản:THS. BS HỒ HOÀNG KIM (DỊCH)
  • Năm xuất bản:2020

TÓM TẮT

Chảy máu liên quan đến tăng áp lực tĩnh mạch cửa và rối loạn đông máu là một biến chứng thường gặp ở bệnh nhân xơ gan. Các biến chứng và xử trí chảy máu là một nguồn đáng kể chi phí chăm sóc sức khỏe và sử dụng, cũng như tỷ lệ mắc bệnh và tử vong. Do khan hiếm bằng chứng xung quanh các chiến lược truyền máu và can thiệp cầm máu ở bệnh nhân xơ gan, đã có nhiều tranh luận về phương pháp tốt nhất. Dữ liệu mới nổi gần đây cho thấy bằng chứng ủng hộ việc truyền các tế bào hồng cầu lắng đến ngưỡng hemoglobin 7–8 g/ dL là rất mạnh. Các chất chủ vận thụ thể thrombopoietin (TPO) đã cho thấy nhiều hứa hẹn trong việc tăng mức độ tiểu cầu và giảm truyền máu trước khi thực hiện các thủ – phẫu thuật, mặc dù chưa được phát hiện cụ thể là làm giảm nguy cơ chảy máu. Dữ liệu về truyền máu có hướng dẫn của xét nghiệm viscoelastic (VET- viscoelastic testing) có vẻ thuận lợi cho việc giảm nhu cầu truyền máu trước các thủ thuật nhỏ và trong quá trình ghép gan. Các yếu tố nội môi huyết học như yếu tố VIIa tái tổ hợp, phức hợp prothrombin cô đặc, và axit tranexamic đã được nghiên cứu nhưng vai trò của chúng trên bệnh nhân xơ gan chưa rõ ràng. Các lĩnh vực khác ngày càng được quan tâm bao gồm tỷ lệ cân bằng và truyền máu toàn phần. Trong bài luận sau đây, chúng tôi tóm tắt những bằng chứng cập nhật nhất về truyền máu toàn phần có hướng dẫn, hướng dẫn dưới VET, tỷ lệ cân bằng và cũng như việc sử dụng các chất cầm máu ở bệnh nhân xơ gan để cung cấp hướng dẫn thực hành cho các bác sĩ lâm sàng.

Từ khóa

Rối loạn đông máu; thành phần truyền máu; xuất huyết tiêu hóa; xơ gan; kiểm tra độ nhớt.

GIỚI THIỆU

Chảy máu đường tiêu hóa trên (UGIB) dẫn đến gần 300 000 ca nhập viện và 15000–30 000 ca tử vong mỗi năm ở Hoa Kỳ.1 Chảy máu đường tiêu hóa trên liên quan đến tăng áp lực tĩnh mạch cửa là một biến chứng nghiêm trọng ở bệnh nhân xơ gan. UGIB do tăng áp cửa đại diện cho 60% –65% các trường hợp UGIB ở bệnh nhân xơ gan và có liên quan đến tỷ lệ tử vong lên đến 30% trong lần nhập viện ban đầu của họ.2,3 Chảy máu nói chung cũng chiếm một phần đáng kể của chi phí chăm sóc sức khỏe và tính hiệu quả như tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong ở những bệnh nhân bị bệnh gan mãn tính.

Tất cả các yếu tố đông máu, ngoại trừ yếu tố Von Willebrand và Yếu tố VIII có nguồn gốc từ nội mô, đều do gan sản xuất; do đó, xơ gan có thể dẫn đến nhiều bất thường đông máu có thể phát hiện được trên nhiều loại xét nghiệm thường được sử dụng. Thrombopoietin, chất điều hòa chính của sản xuất tiểu cầu, cũng được tổng hợp ở gan. Điều này cùng với tình trạng lách to do tăng áp lực tĩnh mạch cửa thường dẫn đến giảm tiểu cầu đặc trưng của bệnh gan.4 Trong vài thập kỷ gần đây, ngày càng có nhiều nhận thức rằng việc giảm nồng độ chất tạo đông trong xơ gan cũng đi kèm với giảm nồng độ chất chống đông máu; một khái niệm được gọi là “cân bằng lại cầm máu”.5,6 Những tình trạng sinh lý này làm phức tạp khả năng của chúng ta trong việc giải thích các xét nghiệm đông máu cơ bản trong phòng xét nghiệm ở bệnh nhân xơ gan và xử trí thích hợp các biến cố xuất huyết cấp tính liên quan đến xơ gan.

Do thiếu bằng chứng xung quanh các chiến lược truyền máu ở bệnh nhân xơ gan, đã có nhiều tranh luận về phương pháp tốt nhất. Tiêu chuẩn chăm sóc hiện tại bao gồm truyền máu dựa theo ngưỡng: Hướng dẫn thực hành của Hiệp hội Nghiên cứu Bệnh gan Hoa Kỳ (AASLD) khuyến nghị sử dụng các ngưỡng truyền máu truyền thống (huyết sắc tố ngưỡng 7 g/ dL).Có rất ít dữ liệu liên quan đến việc sử dụng ngưỡng truyền máu thích hợp để giải quyết tình trạng rối loạn đông máu trong bệnh gan, cũng như quản lý giảm tiểu cầu dựa theo ngưỡng.7 Hiện tại, một số chiến lược truyền máu được áp dụng bao gồm truyền máu theo ngưỡng, xét nghiệm độ đàn hồi cục máu (VET), tỷ lệ cân bằng, và truyền máu toàn phần. Một số chất cầm máu cũng đã được nghiên cứu ở bệnh nhân xơ gan. Do thiếu bằng chứng và hướng dẫn rõ ràng, chúng tôi xem xét những gì hiện đã biết và nêu bật các lĩnh vực cho nghiên cứu tiềm năng trong tương lai.

CHIẾN LƯỢC TRUYỀN MÁU DỰA THEO NGƯỠNG

Truyền hemoglobin dựa theo ngưỡng trong trường hợp chảy máu cấp tính là tiêu chuẩn chăm sóc hiện tại theo khuyến cáo của AASLD.Một thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng gần đây (RCT) trên những bệnh nhân bị chảy máu GI cho thấy rằng một chiến lược hồng cầu lắng “hạn chế” (pRBC) (ngưỡng hemoglobin 7 g/ dL) có liên quan đến việc giảm tỷ lệ tử vong đáng kể so với chiến lược truyền máu “tự do” (ngưỡng hemoglobin là 9 g/ dL). Một phân tích nhóm nhỏ của RCT này cho thấy tỷ lệ tái xuất huyết sớm và tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân xơ gan thấp hơn đáng kể, đặc biệt là những bệnh nhân có Child-Turcotte-Pugh loại A và B.8 Do đó, các hướng dẫn hiện hành khuyến cáo truyền máu với mục tiêu 7– 8 g/ dL ở bệnh nhân xơ gan 9,10; tuy nhiên, vẫn không có hướng dẫn sử dụng các sản phẩm máu dựa trên huyết tương khác (Bảng 1). Hơn nữa, truyền các sản phẩm máu có thể làm tăng áp lực cửa hoặc thay đổi các thông số đông máu ở bệnh nhân xơ gan, do đó làm tăng nguy cơ chảy máu thêm hoặc dẫn đến chảy máu lại 11,12. Cuối cùng, trong khi một số cung cấp truyền pRBC trước phẫu thuật với các ngưỡng nhất định, phương pháp này không được nghiên cứu kỹ hoặc thực hành phổ biến.

Bảng 1. Tóm tắt các khuyến cáo về truyền máu của các tổ chức & hiệp hội
Hiệp hội Hướng dẫn thực hành
Hiệp hội tiêu hóa Hoa Kỳ (AGA) 2019 Cập nhật thực hành lâm sàng: đông cầm máu trong xơ gan
Các xét nghiệm toàn bộ về sự hình thành cục máu đông, chẳng hạn như đo đàn hồi huyết khối quay (ROTEM), đo độ đàn hồi huyết khối, đo lưu biến huyết khối và tạo thrombin, có thể có vai trò trong việc đánh giá quá trình đông máu ở bệnh nhân xơ gan, nhưng hiện tại vẫn thiếu các giá trị mức mục tiêu đã được xác nhận.

Nói chung, các bác sĩ lâm sàng không nên điều chỉnh thường quy tình trạng giảm tiểu cầu và rối loạn đông máu trước khi tiến hành các thủ thuật điều trị nguy cơ thấp, chọc dò lồng ngực và nội soi thường quy trên để cột thắt tĩnh mạch ở bệnh nhân có bất thường đông máu do rối loạn chức năng tổng hợp của gan.

Nên sử dụng ít các sản phẩm máu vì chúng làm tăng áp lực tĩnh mạch cửa và có nguy cơ gây quá tải tuần hoàn do truyền máu, tổn thương phổi cấp tính liên quan đến truyền máu, lây truyền bệh nhiễm trùng, rối loạn miễn dịch và/ hoặc phản ứng truyền máu.

Các ngưỡng mục tiêu truyền máu sau đây để xử trí chảy máu đang hoạt động hoặc các thủ thuật có nguy cơ cao có thể tối ưu hóa sự hình thành cục máu đông trong bệnh gan tiến triển: hematocrit > 25%, số lượng tiểu cầu > 50.000, và fibrinogen > 120 mg/ dL.

Các ngưỡng được sử dụng phổ biến để hiệu chỉnh tỷ lệ chuẩn hóa quốc tế không được chứng minh bằng bằng chứng.

Chất đồng vận thrombopoietin là một thay thế tốt cho truyền tiểu cầu, nhưng cần thời gian (khoảng 10 ngày) để nâng cao mức tiểu cầu.

Thể tích lớn huyết tương tươi đông lạnh cần thiết để đạt được mục tiêu tỷ lệ chuẩn hóa quốc tế (INR) tùy ý, các giới hạn của mục tiêu thông thường, tác dụng tối thiểu đối với việc tạo thrombin, và các tác dụng phụ lên áp lực tĩnh mạch cửa hạn chế đáng kể công dụng của tác nhân này.

Phức hợp yếu tố prothrombin 4 cô đặc chứa cả yếu tố đông và chống đông máu cung cấp một phương pháp điều trị với khối lượng thấp đáng hấp dẫn để cân bằng lại hệ thống cầm máu bị rối loạn. Tuy nhiên, liều lượng một phần dựa trên tỷ lệ chuẩn hóa quốc tế, đây là vấn đề ở bệnh xơ gan, và kinh nghiệm được công bố về bệnh gan còn hạn chế.

Liệu pháp chống tiêu sợi huyết có thể được xem xét ở những bệnh nhân bị chảy máu dai dẳng do rỉ niêm mạc hoặc chảy máu vết thương do bị suy giảm tính toàn vẹn của cục máu đông. Cả axit ε-aminocaproic và axit tranexamic đều ức chế sự hòa tan cục máu đông. Cả hai đều không được cho là tạo ra trạng thái tăng đông, mặc dù cả hai đều có thể làm trầm trọng thêm huyết khối đã có từ trước

Hiệp hội tiêu hóa Hoa Kỳ (AGA) 2019 Cập nhật thực hành lâm sàng về đánh giá rủi ro phẫu thuật và quản lý chu phẫu trong xơ gan.
INR không dự đoán được biến chứng chảy máu ở bệnh nhân xơ gan, và truyền huyết tương tươi đông lạnh “dự phòng” trước phẫu thuật không được khuyến cáo…

Các nghiên cứu cắt ngang trong phòng thí nghiệm và hồi cứu đã chỉ ra rằng số lượng tiểu cầu trên 50000/ μL là đủ để cho phép hình thành cục máu đông ở hầu hết bệnh nhân xơ gan. Truyền máu dự phòng để nâng số lượng tiểu cầu lên mức cao hơn không có lợi và có thể khiến bệnh nhân gặp phải các biến chứng khi truyền, quá tải thể tích hoặc huyết khối bất ngờ.

Mức độ fibrinogen thấp có liên quan đến tăng nguy cơ chảy máu và nồng độ  <100 mg/ dL có liên quan đến nguy cơ ức chế sự hình thành cục máu đông ở bệnh nhân xơ gan … Mặc dù chưa có thử nghiệm đối chứng nào về hiệu quả của truyền fibrinogen ở bệnh nhân xơ gan, có vẻ hợp lý về mặt sinh lý học để bổ sung lượng fibrinogen bằng cách truyền kết tủa lạnh trước các thủ thuật phẫu thuật có nguy cơ cao để tạo cơ sở cho sự hình thành cục máu đông đầy đủ.

Nếu có, xét nghiệm độ đàn hồi nên được xem xét trước và trong quá trình phẫu thuật ở bệnh nhân xơ gan để giúp định hướng chiến lược truyền máu hợp lý.

Hiệp hội Nghiên cứu về Gan của  Châu Âu (EASL) 2018 Hướng dẫn thực hành lâm sàng cho việc quản lý bệnh nhân xơ gan mất bù
Một chiến lược truyền máu hạn chế được khuyến cáo ở hầu hết bệnh nhân có ngưỡng hemoglobin để truyền là 7 g/dL và khoảng mục tiêu là 7-9 g/ dL; Bằng chứng I; Lớp 1.

[liên quan đến LVP] không có dữ liệu hỗ trợ việc sử dụng dự phòng huyết tương tươi đông lạnh, các tiểu cầu pool, mặc dù chúng được sử dụng ở nhiều trung tâm khi hoạt động prothrombin dưới 40% và số lượng tiểu cầu <40000 / ll. LVP nên tránh khi có đông máu nội mạch lan tỏa.

Hiệp hội Nghiên cứu Bệnh gan Hoa Kỳ (AASLD) 2016 Chảy máu do tăng áp cửa trong xơ gan: phân tầng nguy cơ, chẩn đoán và xử trí: Hướng dẫn thực hành năm 2016
Việc truyền PRBC nên được thực hiện một cách thận trọng, bắt đầu truyền khi hemoglobin khi đạt ngưỡng khoảng 7 g/ dL với mục tiêu duy trì nó trong khoảng 7 đến 9 g/ dL.

Về việc điều chỉnh rối loạn đông máu, RCT của yếu tố tái tổ hợp VIIa không cho thấy lợi ích rõ ràng, và do đó việc điều chỉnh tỷ lệ chuẩn hóa quốc tế (INR) bằng cách sử dụng huyết tương tươi đông lạnh hoặc yếu tố VIIa không được khuyến khích, đặc biệt vì INR không phải là một chỉ số đáng tin cậy tình trạng đông máu trong xơ gan.

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

Gửi bình luận

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Exit mobile version
Trang Chủ