Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Viêm Tuyến Giáp – Chẩn đoán và Điều trị (2026). CHƯƠNG 9. VIÊM TUYẾN GIÁP MẠN TÍNH: BỆNH HASHIMOTO

194 phút đọc

Viêm Tuyến Giáp – Chẩn đoán và Điều trị (2026) | Thyroiditis – Diagnosis and Therapeutic Management
Biên tập: Mahmoud Sakr – (C) 2026 Nhà xuất bản: Springer – Năm xuất bản: 2026.
Ths.Bs. Lê Đình Sáng: Dịch và chuyển thể tiếng Việt. Ấn bản tiếng Việt của cuốn sách này được xuất bản trực tuyến vì mục đích phi lợi nhuận, duy nhất trên nền tảng yhoclamsang.net và sachyhoc.com của Thư viện Y học Medipharm.


CHƯƠNG 9. VIÊM TUYẾN GIÁP MẠN TÍNH: BỆNH HASHIMOTO

Chronic Thyroiditis: Hashimoto’s Disease


9.1 Tổng Quan

Viêm tuyến giáp Hashimoto (Hashimoto’s thyroiditis), còn được gọi là viêm tuyến giáp lympho bào mạn tính (chronic lymphocytic thyroiditis) và bướu giáp lympho bào (struma lymphomatosa), là một phần trong phổ các bệnh tuyến giáp tự miễn (Autoimmune thyroid diseases – AITDs), phổ bệnh này cũng bao gồm các biến thể sau: viêm tuyến giáp teo (atrophic thyroiditis), viêm tuyến giáp vị thành niên (juvenile thyroiditis), viêm tuyến giáp sau sinh (postpartum thyroiditis – PPT), viêm tuyến giáp thầm lặng (silent thyroiditis), và viêm tuyến giáp khu trú (focal thyroiditis).

Bệnh Hashimoto (hoặc viêm tuyến giáp Hashimoto) đặc trưng bởi tình trạng tuyến giáp phì đại lan tỏa, không đau, xảy ra chủ yếu ở phụ nữ trung niên. Bệnh nhân thường ở trạng thái bình giáp (euthyroid), nhưng tình trạng suy giáp (hypothyroidism) có thể dần dần tiến triển. Nhu mô tuyến giáp bị thay thế lan tỏa bởi các tế bào lympho xâm nhập và phản ứng xơ hóa. Bệnh nhân mắc viêm tuyến giáp Hashimoto có các kháng thể trong huyết thanh phản ứng với thyroglobulin (Tg), peroxidase tuyến giáp (thyroid peroxidase – TPO), và phản ứng với một loại protein chưa xác định có trong chất keo, dẫn đến sự phá hủy các tế bào tuyến giáp. Việc ngày càng sử dụng phổ biến sinh thiết bằng kim và các xét nghiệm huyết thanh học để tìm kháng thể đã giúp nhận diện căn bệnh này thường xuyên hơn rất nhiều. Hiện nay, đây là nguyên nhân phổ biến nhất gây suy giáp ở Hoa Kỳ ở độ tuổi sau 6 tuổi.

Một bệnh nhân có bướu giáp (goiter) nhỏ và bình giáp không cần điều trị trừ khi nồng độ TSH tăng cao. Sự hiện diện của tuyến giáp lớn, bướu giáp phát triển liên tục, hoặc tình trạng suy giáp là chỉ định cần thiết để bắt đầu liệu pháp điều trị thay thế bằng hormone tuyến giáp. Phẫu thuật hiếm khi được chỉ định. Sự phát triển của u lympho (lymphoma), mặc dù rất hiếm gặp, phải được nghĩ đến nếu tuyến giáp bị tổn thương có sự tăng trưởng kích thước hoặc gây đau. Với việc chẩn đoán sớm, liệu pháp thay thế bằng L-T4 phù hợp, theo dõi chăm sóc bệnh nhân định kỳ, và chú ý phát hiện sớm cũng như quản lý các biến chứng, tiên lượng của bệnh viêm tuyến giáp Hashimoto là rất tốt, bệnh nhân có thể có một cuộc sống hoàn toàn bình thường. Chương này đề cập đến một loạt các chủ đề liên quan đến bệnh Hashimoto, bao gồm dịch tễ học, giải phẫu bệnh, nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh, biểu hiện lâm sàng, chẩn đoán và chẩn đoán phân biệt, mối liên quan với ung thư biểu mô tuyến giáp thể nhú (papillary thyroid carcinoma), quản lý điều trị và tiên lượng.

9.2 Lược Sử

Theo các tiêu chí nghiêm ngặt, viêm tuyến giáp Hashimoto là một chẩn đoán mô học được mô tả lần đầu tiên bởi bác sĩ phẫu thuật người Nhật Bản Hakaru Hashimoto, người sinh ngày 5 tháng 5 năm 1881, tại ngôi làng Midai, Nishitsuge, thuộc tỉnh Mie, Nhật Bản. Ông tốt nghiệp Trường Y khoa Đại học Kyushu vào năm 1907. Hakaru Hashimoto cũng từng học tập tại Anh, nhưng khi Thế chiến thứ nhất nổ ra, ông buộc phải trở về quê hương Nhật Bản. Năm 2013 đánh dấu kỷ niệm 100 năm ngày ông mô tả nguyên bản về “bướu giáp lympho bào” (những quan sát của ông về các đặc điểm mô học độc đáo, bao gồm sự xâm nhập của tế bào lympho, sự thay đổi ái toan ở các tế bào nang giáp và xơ hóa mô kẽ được mô tả ở bốn phụ nữ có bướu giáp đã được phẫu thuật cắt bỏ tuyến giáp). Công trình của ông được công bố trên một tạp chí của Đức vào năm 1912 và đã không được chú ý trong hơn 40 năm. Tại thời điểm đưa ra mô tả ban đầu, Hashimoto đã nhận ra rằng có một kích thích nào đó chịu trách nhiệm cho những thay đổi phản ứng mà ông ghi nhận được, nhưng ông thừa nhận rằng ông không biết bản chất của kích thích đó là gì. Do qua đời đột ngột vào ngày 9 tháng 1 năm 1934 (ở tuổi 52) vì bệnh thương hàn, ông không bao giờ có thể chứng kiến được tầm ảnh hưởng từ khám phá của mình.

Mãi cho đến năm 1956, mối liên hệ giữa các kháng thể chống lại tế bào tuyến giáp hiện diện trong huyết thanh của bệnh nhân và bệnh Hashimoto mới được thiết lập. Tuyến giáp là cơ quan đầu tiên mà ở đó nguyên nhân miễn dịch gây ra một quá trình bệnh lý đặc hiệu (viêm tuyến giáp Hashimoto) được mô tả. Theo thời gian, sự hiểu biết của chúng ta về các con đường miễn dịch liên quan đến viêm tuyến giáp Hashimoto ngày càng phát triển. Hiện nay, chúng ta đã nhận ra mối liên quan của căn bệnh này với các bệnh tự miễn khác và bệnh ung thư tuyến giáp.

Căn bệnh này đã từng được gọi là viêm tuyến giáp Hashimoto, viêm tuyến giáp mạn tính, viêm tuyến giáp lympho bào, bướu giáp dạng lympho, và gần đây là viêm tuyến giáp tự miễn (autoimmune thyroiditis). Về mặt kinh điển, bệnh biểu hiện như một tình trạng phì đại tuyến giáp lan tỏa, không đau ở một phụ nữ trẻ hoặc tuổi trung niên. Bệnh thường đi kèm với tình trạng suy giáp.

Năm 1956, Rose và Witebsky đã chỉ ra rằng việc gây miễn dịch cho thỏ bằng chiết xuất tuyến giáp thỏ đã tạo ra những thay đổi mô học trong tuyến giáp tương tự như những thay đổi được thấy ở bệnh viêm tuyến giáp Hashimoto. Họ cũng tìm thấy các kháng thể kháng thyroglobulin (anti-thyroglobulin antibodies) trong máu của những con vật này. Sau đó, Roitt và cộng sự (năm 1956) quan sát thấy rằng một chất kết tủa được hình thành khi chiết xuất tuyến giáp người được thêm vào huyết thanh từ một bệnh nhân mắc viêm tuyến giáp Hashimoto. Do đó, có vẻ như huyết thanh chứa các kháng thể chống lại một thành phần của tuyến giáp người và những kháng thể này có thể là nguyên nhân gây ra quá trình bệnh lý. Những quan sát ban đầu này đã dẫn trực tiếp đến các khái niệm hoàn toàn mới về nguyên nhân gây bệnh do quá trình tự mẫn cảm miễn dịch (auto-immunization).

Mô tả ban đầu của Hakaru Hashimoto về căn bệnh này là bước đi đầu tiên cần thiết để đạt được sự hiểu biết hiện tại của chúng ta về bệnh viêm tuyến giáp Hashimoto. Những đóng góp của ông cho các lĩnh vực nội tiết học và bệnh tự miễn là vô cùng to lớn và thật không may, lại thường không được đánh giá đúng mức.

9.3 Dịch Tễ Học

Nguyên nhân phổ biến nhất gây suy giáp trên toàn thế giới là thiếu hụt i-ốt. Tuy nhiên, viêm tuyến giáp Hashimoto, dạng viêm tuyến giáp tự miễn thường gặp nhất, vẫn là nguyên nhân phổ biến nhất gây suy giáp tự phát (spontaneous hypothyroidism) ở những khu vực có lượng i-ốt hấp thụ đầy đủ, chẳng hạn như Bắc Mỹ.

9.3.1 Tỷ Lệ Mắc Mới

9.3.1.1 Tỷ Lệ Mắc Mới Trên Toàn Thế Giới

Tỷ lệ mắc mới (incidence) hàng năm của bệnh viêm tuyến giáp Hashimoto được ghi nhận trong thực hành lâm sàng trên toàn thế giới vẫn chưa được biết rõ, nhưng nó gần tương đương với tỷ lệ mắc bệnh Basedow (Graves’ disease) (khoảng 0.3-1.5 ca trên 1000 dân mỗi năm). Bệnh phổ biến hơn ở những khu vực có chế độ ăn giàu i-ốt và ở những người có khuynh hướng nhạy cảm về mặt di truyền. Chắc chắn rằng bệnh Hashimoto tồn tại với tần suất cao hơn nhiều so với những gì được chẩn đoán trên lâm sàng, và tần suất của nó dường như đang có xu hướng gia tăng.

9.3.1.2 Tỷ Lệ Mắc Mới Ở Hoa Kỳ

Viêm tuyến giáp Hashimoto là nguyên nhân phổ biến nhất gây suy giáp ở Hoa Kỳ ở độ tuổi sau 6 tuổi, với tỷ lệ mắc mới ước tính là 1.3% trong một loạt nghiên cứu trên 5000 trẻ em từ 11-18 tuổi. Ở người trưởng thành, tỷ lệ mắc mới ước tính là 3.5 trên 1000 người mỗi năm ở nữ giới và 0.8 trên 1000 người mỗi năm ở nam giới. Tỷ lệ mắc mới này có thể lên tới 6% ở khu vực dãy núi Appalachian.

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Exit mobile version
Trang Chủ