ĐẠI CƯƠNG.
Khái niệm:
Phôi Thai học:
Mặc dù gai đôi đốt sống đã được mô tả từ thời Hyppocrate (460 – TCN) và các thầy thuốc ả Rập (Trung Cổ), nhưng mãi tới năm 1983 với sự ra đời học thuyết hợp nhất của Pang D và cộng sự mới giải thích đầy đủ về cơ chế hình thành của tất cả các dạng dị tật kẽ hở của cột sống – tuỷ sống. Vào cuối tháng thứ 2 của quá trình phát triển phôi trong mỗi đốt sống xuất hiện các điểm cốt hoá. Mỗi đốt sống được phát triển từ 3 cặp điểm cốt hoá chính. Điểm cốt hoá trung tâm phát triển thành thân đốt sống, các điểm cốt hoá bên phát triển ra sau tạo nên bản sống. Vào năm đầu sau khi sinh hai điểm cốt hoá này dính lại với nhau. Khi các điểm cốt hoá không gắn liền sẽ để lại các khe hở ở đốt sống tạo thành các dạng dị tật khác nhau của đốt sống.
Gai đôi đốt sống có thể gặp ở bất kỳ vị trí nào trên cột sống nhưng theo James C.M và Lassman L.P (1972); Eckstein H.B và Macnab W (1966), gai đôi đốt sống chủ yếu xảy ra ở vùng thắt lưng – cùng (TL- C) đôi khi ở đốt sống cổ và rất hiếm khi gặp ở các đốt sống ngực.
Phân loại gai đôi đốt sống:
Tùy theo nguồn gốc phôi thai hay vị chí của gai đôi đốt sống có cách phân loại khác nhau; song cho đến nay, cách phân loại theo vị trí của Bucy P.C (1939) vẫn được nhiều tác giả ứng dụng:
Gai đôi đốt sống phía trước (spina bifida anterior).
Gai đôi đốt sống phía sau (spina bifida posterior).
Gai đôi đốt sống kín (spina bifida occulta).
Gai đôi đốt sống dạng nang (spina bifida cystica).
Thoát vị màng tuỷ (meningocele).
Thoát vị màng tuỷ – tuỷ (meningomyelocele).
Thoát vị tuỷ (myelocele).
Thoát vị ống nội tuỷ – tuỷ (syringomyelocele).
Gai đôi đốt sống (GĐĐS) rất hiếm khi sảy ra ở phía trước (thân đốt sông) chủ yếu sảy ra ở phía sau (cung sau, gai sau). Theo Gabriel S.R (1980) trong số 1390 trường hợp GĐĐS chỉ có 6 bệnh nhân bị GĐĐS phía trước còn lại là GĐĐS phía sau.
GAI ĐÔI ĐỐT SỐNG KÍN.
Là một dạng của GĐĐS phía sau có thể gặp ở 20 ữ 30% dân số (theo Reilgel H.P, 1968). GĐĐS kín có đặc điểm là gai sau, thậm chí cung sau của một hoặc vài ba đốt sống đóng không trọn vẹn nhưng các thành phần của tuỷ sống không bị thoát vị ra ngoài.
Triệu chứng:
Hầu hết GĐĐS kín không có biểu hiện gì, nhiều khi chỉ được phát hiện một cách tình cờ trên các film chụp Xquang có liên quan tới vùng thắt lưng – cùng hoặc khi mổ xác.
Đôi khi GĐĐS kín gây đau vùng thắt lưng – cùng và các thiếu khuyết về thần kinh với đặc điểm: đau vùng thắt lưng – cùng là triệu chứng đầu tiên của bệnh, đau thường tăng lên khi vận động, nghỉ ngơi có đỡ. ấn vào đốt sống bị gai đôi bệnh nhân thường rất đau.
Một số ít trường hợp còn có biểu hiện đau các rễ của dây thần kinh thắt lưng – cùng kéo dài, kèm theo có các rối loạn về cảm giác, dinh dưỡng và phản xạ. Thậm chí có những rối loạn cơ quan đáy chậu.
ở một số bệnh nhân vùng da tương ứng với đốt sống bị gai đôi có một vài biến đổi như: lõm da, đám nơvi, đường rò hoặc u nang dạng biểu bì… Theo Ingraham F.D (1961): đây là những dấu hiệu có ý nghĩa chỉ điểm cho GĐĐS kín phía dưới. Tuy nhiên, những biểu hiện này không phải có ở tất cả các bệnh nhân. Theo Gabriel S.R (1980) chỉ có 35% số bệnh nhân có những thay đổi trên da.
Chụp film Xquang quy ước cho chẩn đoán xác định GĐĐS kín trên cơ sở khuyết gai sau, cung sau có các hình ảnh: dày xương bở ổ khuyết, tồn tại điểm cốt hoá mấu gai, gai đôi phát triển to lên lồi vào ống sống hay phì đại gai sau của LV ép xuống vùng hở xương cung sau của S 1.
Chụp bao rễ thần kinh có thể thấy hình ảnh viêm dính co kéo bao cùng hoặc chèn ép bao cùng từ phía sau.
Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung
Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ