Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Hội chứng Buồng trứng Đa nang. CHƯƠNG 14. ĐIỀU TRỊ NỘI KHOA HỘI CHỨNG BUỒNG TRỨNG ĐA NANG: RỐI LOẠN KINH NGUYỆT

24 phút đọc

Hội chứng Buồng trứng Đa nang: Từ Cơ sở Khoa học đến Các Tiến bộ Lâm sàng trong Suốt Cuộc đời | Polycystic Ovary Syndrome – Basic Science to Clinical Advances Across the Lifespan.
Biên tập: Rehana Rehman and Aisha Sheikh | (C) 2025 Nhà xuất bản Elsevier.
Dịch và Chú giải:
Ths.Bs. Lê Đình Sáng, Ts.Bs. Ngô Đức Kỷ


CHƯƠNG 14. ĐIỀU TRỊ NỘI KHOA HỘI CHỨNG BUỒNG TRỨNG ĐA NANG: RỐI LOẠN KINH NGUYỆT

FARHEEN YOUSUF VÀ REHANA REHMAN


Định Nghĩa

Chu kỳ kinh nguyệt được xem là không đều hoặc tình trạng thiểu kinh (oligomenorrhea) ở phụ nữ trưởng thành nếu họ có ít hơn 8 chu kỳ kinh trong một năm, hoặc chu kỳ kéo dài dưới 21 ngày hoặc trên 35 ngày. Những phụ nữ này cần được đánh giá thêm về các đặc điểm khác thuộc tiêu chuẩn Rotterdam (Rotterdam criteria). Trong hội chứng buồng trứng đa nang (polycystic ovary syndrome – PCOS), tình trạng rối loạn chức năng kinh nguyệt thường biểu hiện dưới dạng chảy máu kinh không đều, thưa thớt và/hoặc vô kinh (absent menstrual bleeding).

Cần chẩn đoán phân biệt PCOS với các nguyên nhân gây thiểu kinh khác như tình trạng tăng prolactin máu (hyperprolactinemia) và vô kinh do vùng dưới đồi cơ năng (functional hypothalamic amenorrhea). Ở những bệnh nhân này, chỉ số khối cơ thể (body mass index – BMI) nằm trong giới hạn bình thường hoặc thấp, tỷ lệ giữa hormone tạo hoàng thể (luteinizing hormone – LH) và hormone kích thích nang trứng (follicle-stimulating hormone – FSH) ở mức bình thường, đồng thời nồng độ estrogen cũng bình thường hoặc thấp.

Tỷ Lệ Hiện Mắc

Tỷ lệ hiện mắc (prevalence) của PCOS trong dân số chung là từ 2% đến 13%. Biểu hiện phổ biến nhất của PCOS là tình trạng rối loạn kinh nguyệt (menstrual irregularities), gặp ở 60% đến 85% phụ nữ, và khoảng 37% phụ nữ đến khám với tình trạng vô kinh thứ phát (secondary amenorrhea).

Sinh Lý Bệnh

Các rối loạn kinh nguyệt trong PCOS ảnh hưởng đến phụ nữ ở mọi nhóm tuổi. Cơ chế sinh lý bệnh (pathophysiology) của PCOS được thảo luận chi tiết trong Chương 5. Nhằm tóm tắt lại từ góc độ của các rối loạn kinh nguyệt và để bổ sung cho Hình 14.1, các điểm sau đây được nhấn mạnh. Một số yếu tố liên quan đến sự phát triển thể chất của phụ nữ trẻ có thể gây ra các rối loạn nội tiết và chuyển hóa (endocrine and metabolic disorders), dẫn đến tình trạng rối loạn kinh nguyệt. Hơn nữa, sự rối loạn chức năng của trục dưới đồi-tuyến yên-buồng trứng (hypothalamic-pituitary-ovarian axis) cũng có thể gây ra những bất thường này. Do đó, các rối loạn này phụ thuộc vào nồng độ androgen trong máu cao, sự gia tăng tỷ lệ LH:FSH và tình trạng nồng độ insulin tăng cao, đi kèm với số lượng nang non cao, làm ảnh hưởng đến quá trình rụng trứng (ovulation) và dẫn đến các rối loạn kinh nguyệt. Người ta quan sát thấy rằng khi tuổi tác tăng lên, số lượng dự trữ nang thứ cấp (antral follicular pool) sẽ giảm dần; do đó làm giảm nồng độ hormone chống Müllerian (anti-Müllerian hormone – AMH), gây ra các chu kỳ kinh nguyệt ngắn hơn.

Tác Dụng Của Các Hormone Giải Phóng Gonadotropin

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng tần số xung tiết hormone giải phóng gonadotropin (gonadotropin-releasing hormone – GnRH) tăng lên có thể kích thích quá trình tổng hợp LH, dẫn đến tỷ lệ LH/FSH tăng cao ở bệnh nhân mắc PCOS. Nồng độ LH tăng cao chịu trách nhiệm cho sự phát triển của các rối loạn sinh sản và chuyển hóa, cũng như quá trình sản xuất androgen trong các tế bào vỏ buồng trứng (ovarian theca cells), và hậu quả cuối cùng là dẫn đến tình trạng tăng androgen máu (hyperandrogenemia – HA) và sự ngưng trệ quá trình phát triển nang trứng (arrested follicle development). Các steroid sinh dục ngoại vi có thể điều hòa hoạt động của các tế bào thần kinh tiết GnRH thông qua cơ chế tác dụng phản hồi (feedback effect); tuy nhiên, cơ chế này bị suy yếu trong hội chứng PCOS, từ đó tạo thành một vòng xoắn bệnh lý (vicious cycle).

Neuropeptide: Kisspeptin

Nằm ở vùng dưới đồi, kisspeptin là yếu tố điều hòa ngược dòng (upstream regulator) đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành xung tiết GnRH. Được đồng biểu hiện cùng với neurokinin B (NKB) và dynorphin tạo thành hệ thống KNDy, các tế bào thần kinh này điều hòa xung tiết GnRH và sự bài tiết LH. Trong đó, kisspeptin có thể kích thích các tế bào thần kinh tiết GnRH và NKB có thể hoạt động như một yếu tố kích thích, trong khi dynorphin lại ức chế quá trình sản xuất kisspeptin, từ đó điều biến sự bài tiết GnRH xuôi dòng (downstream GnRH secretion).

Hình 14.1 Sự Tương Tác Của Các Cơ Chế Khác Nhau Trong Cơ Thể Dẫn Đến Rối Loạn Kinh Nguyệt Ở Bệnh Nhân Mắc Hội Chứng Buồng Trứng Đa Nang (PCOS). AMH, Hormone chống Müllerian; FSH, hormone kích thích nang trứng; GnRH, hormone giải phóng gonadotropin; IR, đề kháng insulin; KNDy, kisspeptin, neurokinin B, và dynorphin; LH, hormone tạo hoàng thể; LR, đề kháng leptin; PCOs, buồng trứng đa nang; SCFA, axit béo chuỗi ngắn; SHBG, globulin gắn kết hormone sinh dục.

Tóm tắt sơ đồ Hình 14.1

Vùng dưới đồi: Liên kết với Tuyến yên làm tăng LH, giảm FSH. Tăng LH kích thích tế bào vỏ buồng trứng tiết Androgen, dẫn đến tình trạng Tăng androgen máu và làm ngừng phát triển nang trứng, hình thành Buồng trứng đa nang (PCOS).

Tín hiệu GnRH: Hoạt động của tế bào thần kinh tiết GnRH hình thành con đường chung cuối cùng của quá trình điều hòa trung ương đối với sự phát triển PCOS.

Khu vực trước thị: Kisspeptin kích thích tế bào thần kinh GnRH. Nhân cung: Các tế bào thần kinh hệ KNDy kích thích tế bào thần kinh GnRH.

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Exit mobile version
Trang Chủ