Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Hội chứng Buồng trứng Đa nang. CHƯƠNG 16. ĐIỀU TRỊ NỘI KHOA HỘI CHỨNG BUỒNG TRỨNG ĐA NANG: GIẢM CÂN

36 phút đọc

Hội chứng Buồng trứng Đa nang: Từ Cơ sở Khoa học đến Các Tiến bộ Lâm sàng trong Suốt Cuộc đời | Polycystic Ovary Syndrome – Basic Science to Clinical Advances Across the Lifespan.
Biên tập: Rehana Rehman and Aisha Sheikh | (C) 2025 Nhà xuất bản Elsevier.
Dịch và Chú giải:
Ths.Bs. Lê Đình Sáng, Ts.Bs. Ngô Đức Kỷ


CHƯƠNG 16. ĐIỀU TRỊ NỘI KHOA HỘI CHỨNG BUỒNG TRỨNG ĐA NANG: GIẢM CÂN

SARAH NADEEM VÀ ASMA ALTAF HUSSAIN MERCHANT


Ý NGHĨA CỦA CÂN NẶNG TRONG HỘI CHỨNG BUỒNG TRỨNG ĐA NANG

Hội chứng buồng trứng đa nang (polycystic ovary syndrome – PCOS) là một hội chứng với các biểu hiện nguyên phát là chu kỳ kinh nguyệt không đều và cường androgen (hyperandrogenism). Nhóm hội thảo đồng thuận Rotterdam năm 2003 đã sửa đổi các hướng dẫn trước đây về việc chẩn đoán hội chứng buồng trứng đa nang. Dựa trên tiêu chuẩn Rotterdam, chẩn đoán hội chứng buồng trứng đa nang có thể được xác lập nếu một phụ nữ có hai trong số ba tiêu chuẩn sau đây (sau khi đã loại trừ các chẩn đoán thứ phát, vì hội chứng buồng trứng đa nang là một chẩn đoán loại trừ):

  • Thiểu kinh/không rụng trứng (Oligomenorrhea/anovulation)
  • Cường androgen (bằng chứng lâm sàng và/hoặc sinh hóa của tình trạng cường androgen):
    • Lâm sàng: Rậm lông (Hirsutism), mụn trứng cá, và/hoặc bệnh gai đen (acanthosis nigricans)
    • Sinh hóa: Nồng độ testosterone tăng cao, nồng độ testosterone tự do nhạy hơn so với nồng độ testosterone toàn phần, và/hoặc tăng androstenedione và/hoặc dehydroepiandrosterone sulfate (DHEA-S)
  • Buồng trứng đa nang trên siêu âm (≥ 12 nang có đường kính 2-9 mm ở một buồng trứng hoặc thể tích buồng trứng > 10 cc) với việc loại trừ các nguyên nhân khác (tăng sản thượng thận bẩm sinh, khối u tiết androgen, hội chứng Cushing)

Phần lớn (50% – 80%) bệnh nhân được chẩn đoán mắc hội chứng buồng trứng đa nang trên lâm sàng bị thừa cân (chỉ số khối cơ thể [body mass index – BMI] từ 25 – 30 kg/m2) hoặc béo phì (BMI lớn hơn 30 kg/m2). Đối với tất cả phụ nữ ở độ tuổi từ 25 đến 35, bao gồm cả những người mắc hội chứng buồng trứng đa nang, cân nặng tối ưu được xác định là khi BMI nhỏ hơn 24 kg/m2. Trong một phân tích gộp, ở những bệnh nhân mắc hội chứng buồng trứng đa nang trên 35 tuổi, tỷ lệ mang thai được ghi nhận giảm đáng kể tại điểm cắt BMI là 18 – 20 kg/m2 (Tỷ số chênh OR = 0,6969, Khoảng tin cậy 95% CI [0,4947, 0,9817]). Ở những bệnh nhân không mắc hội chứng buồng trứng đa nang trên 35 tuổi, không có điểm cắt đáng kể nào giữa BMI và tỷ lệ mang thai. Trên toàn thế giới, khi tỷ lệ hiện mắc (prevalence) béo phì gia tăng, tỷ lệ hiện mắc béo phì ở bệnh nhân mắc hội chứng buồng trứng đa nang cũng tăng mạnh, từ 51% trong những năm 90 lên 74% trong những thập kỷ sau đó. Tuy nhiên, điều quan trọng cần lưu ý là tồn tại một tỷ lệ nhỏ phụ nữ có BMI nhỏ hơn hoặc bằng 25 kg/m2 đáp ứng các tiêu chuẩn chẩn đoán của hội chứng buồng trứng đa nang. Hiện tượng này được gọi là “PCOS thể gầy” (lean PCOS) và có tỷ lệ hiện mắc tổng thể từ 1,5% đến 6,6%, tùy thuộc vào các sắc tộc khác nhau. Bệnh nhân mắc hội chứng buồng trứng đa nang thể gầy có nguy cơ tiến triển kháng insulin (insulin resistance – IR), đái tháo đường type 2 (type 2 diabetes mellitus – T2DM), và các bệnh đồng mắc khác thấp hơn.

Có một số cơ chế góp phần vào sự tiến triển béo phì theo thời gian ở một bệnh nhân mắc hội chứng buồng trứng đa nang (Hình 16.1). Tình trạng béo phì hệ quả tạo ra cơ địa dễ mắc các rủi ro gia tăng của các bệnh đồng mắc liên quan, chẳng hạn như tiền đái tháo đường, đái tháo đường type 2, tăng huyết áp, và ngưng thở khi ngủ tắc nghẽn (obstructive sleep apnea). Đặc điểm phổ biến nhất của hội chứng buồng trứng đa nang vẫn là tình trạng kháng insulin, góp phần tạo ra nhiều biểu hiện đa dạng. Tăng insulin máu (Hyperinsulinemia) dẫn đến sự phát triển hội chứng chuyển hóa trong hội chứng buồng trứng đa nang với sự điều hòa giảm (downregulation) của các thụ thể insulin, tăng acid béo tự do và nồng độ lipid nội bào, cũng như sự thay đổi hoạt động của chính nó thông qua sự lưu thông của yếu tố hoại tử khối u-alpha (TNF-alpha) và interleukin-6 (IL-6).

Đạt được và duy trì một mức cân nặng khỏe mạnh tối ưu là một thành phần chính trong việc điều trị hội chứng buồng trứng đa nang với kết quả là cải thiện độ nhạy insulin và giảm các triệu chứng của cường androgen và không rụng trứng.

Hình 16.1: Cơ chế Bệnh sinh và Các Cơ chế Liên quan đến Hội chứng Buồng trứng Đa nang và Béo phì. ĐTĐ, Đái tháo đường; THA, Tăng huyết áp; BGTKDR, Bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu; NGNTKN, Ngưng thở khi ngủ tắc nghẽn; SHBG, Globulin gắn hormone sinh dục.

Quản Lý Cân Nặng

Quản lý cân nặng đề cập đến toàn bộ quá trình giảm cân, ngăn ngừa tăng cân thêm và duy trì trạng thái cân bằng này. Việc giảm 5% đến 10% cân nặng đã được chứng minh là mang lại những kết cục có lợi về các khía cạnh tâm lý, sinh sản và chuyển hóa trong cuộc sống của một bệnh nhân được chẩn đoán mắc hội chứng buồng trứng đa nang. Có nhiều phương thức giảm cân khác nhau, bao gồm thay đổi chế độ ăn uống và lối sống, các can thiệp nội khoa và can thiệp ngoại khoa (Bảng 16.1).

Các Chiến Lược Thay Đổi Lối Sống

Thay đổi lối sống bao gồm ba lĩnh vực chính: chế độ ăn uống, hoạt động thể chất và rèn luyện hành vi. Một số nghiên cứu dọc đã chứng minh rằng việc phối hợp các can thiệp này có thể giúp đạt được mức giảm 10% cân nặng và duy trì nó trong ít nhất 1 năm, trong đó hạn chế lượng calorie là yếu tố then chốt của việc giảm cân và duy trì sự sụt giảm này thông qua một kế hoạch hoạt động/tập thể dục bền vững. Việc giảm cân nặng dù chỉ khoảng 5% tổng trọng lượng cơ thể thông qua thay đổi lối sống cũng có thể mang lại những lợi ích đáng kể về chuyển hóa, sinh sản và tâm lý. Một thách thức lớn đối với việc duy trì giảm cân lâu dài là sự vắng mặt của các mục tiêu được lập kế hoạch từ trước và quá trình rèn luyện hành vi liên tục, do đó đòi hỏi phải tập trung nhiều hơn vào quá trình giảm cân.

Bảng 16.1: Các Can Thiệp Nội Khoa Và Ngoại Khoa Để Giảm Cân Trong Hội Chứng Buồng Trứng Đa Nang

Nhóm Phân Loại Chi Tiết Can Thiệp / Loại Phẫu Thuật Giảm Béo
Các Can Thiệp Nội Khoa Để Giảm Cân  
01. Các chất đồng vận Glucagon-like Peptide 1 (GLP-1) Liraglutide; Được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA) phê duyệt
  Semaglutide; Được FDA phê duyệt
02. Phentermine/topiramate giải phóng kéo dài (ER); Được FDA phê duyệt Thuốc giống giao cảm/Thuốc chống co giật
03. Naltrexone ER/bupropion ER; Được FDA phê duyệt Chất đối kháng Opioid/Thuốc chống trầm cảm
04. Chất ức chế Lipase Orlistat; Được FDA phê duyệt
05. Chất đồng vận Serotonin 5-HT20 Lorcaserin: Không được khuyến cáo, đã bị rút khỏi thị trường do nguy cơ ác tính
Các Can Thiệp Ngoại Khoa Để Giảm Cân  
01. Hạn chế dung tích (Làm giảm dung tích tự nhiên của dạ dày, qua đó hạn chế lượng thức ăn nạp vào và làm giảm cân)
  1. Tạo hình dạ dày theo chiều ngang (Horizontal gastroplasty)
  2. Tạo hình dạ dày có băng thắt dọc (Vertical banded gastroplasty)
  3. Tạo hình dạ dày dọc bằng vòng silastic (Silastic ring vertical gastroplasty)
  4. Thắt đai dạ dày có thể điều chỉnh (Adjustable gastric banding)
02. Kém hấp thu (Định tuyến lại ruột để bỏ qua một phần đáng kể ruột non, dẫn đến giảm hấp thu chất dinh dưỡng, góp phần làm giảm cân)
  1. Nối tắt hổng-hồi tràng (Jejunoileal bypass)
  2. Chuyển dòng mật-tụy (Biliopancreatic diversion)
  3. Chuyển dòng tá tràng (Duodenal switch)
  4. Nối tắt dạ dày nhánh dài (Long-limb gastric bypass)
03. Hỗn hợp: Hạn chế dung tích và Kém hấp thu (Giảm kích thước dạ dày cùng với việc bỏ qua phần lớn ruột non)
  1. Phẫu thuật nối tắt dạ dày kiểu Roux-en-Y (Roux-en-Y gastric bypass procedure – RYGB)

Quản Lý Chế Độ Ăn Uống

Giảm cân chủ yếu đạt được bằng cách tạo ra sự thiếu hụt calorie. Điều này đúng với tất cả mọi người, bao gồm cả những bệnh nhân mắc hội chứng buồng trứng đa nang. Không có dữ liệu khoa học nào về một chế độ ăn uống dành riêng cho hội chứng buồng trứng đa nang, nhưng bất kỳ kế hoạch ăn kiêng nào gây ra tình trạng thiếu hụt calorie đều sẽ mang lại hiệu quả giảm cân.

Việc thiết lập mục tiêu là rất quan trọng trước khi bắt đầu một kế hoạch ăn kiêng cụ thể để cá nhân hóa nó cho từng người bệnh và biến nó thành khả thi. Việc giảm từ 500 đến 1000 kcal/ngày so với chế độ ăn uống bình thường của bệnh nhân có thể hướng tới việc đạt được mức giảm 0,5 đến 1 kg mỗi tuần. Cần có những thay đổi chế độ ăn uống chậm nhưng được duy trì lâu dài, bao gồm chia nhỏ khẩu phần ăn, thay thế đồ uống chứa đường bằng nước lọc, tăng cường tiêu thụ ngũ cốc nguyên cám, và giảm bớt chất béo không bão hòa hoặc carbohydrate phức hợp trong chế độ ăn uống.

Phụ nữ theo chế độ ăn rất ít calorie (cung cấp 800 calorie hoặc ít hơn mỗi ngày với mức giảm cân hàng tuần trung bình khoảng 1 đến 2,5 kg mỗi tuần) cho thấy mức giảm cân ban đầu lớn hơn so với các hình thức hạn chế calorie khác nhưng cần được các chuyên gia y tế theo dõi để ngăn ngừa sự thiếu hụt vi chất dinh dưỡng. Để đạt được mức giảm cân tối đa với các kết cục dài hạn tốt hơn, sự phối hợp giữa tập thể dục thể chất và hạn chế calorie là điều thiết yếu.

Hoạt Động Thể Chất

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Exit mobile version
Trang Chủ